Home
  Sign up
  • Trang chính |
  • Trang thành viên |
  • Albums |
  • Mobile
  • Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Yên Bái: Nhiều hoạt động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

    hvnyb | 19 April, 2008 15:04

     















    Đồng chí Hoàng Thị Hạnh - Phó chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Hội VHNT tỉnh Yên Bái.

     

    Năm 2007, Hội Văn học - Nghệt thuật đã kết nạp mới 13 hội viên, nâng tổng số hội viên toàn tỉnh lên 113 người. Trong năm tổ chức được 2 trại sáng tác trong và ngoài tỉnh cho 56 lượt hội viên và cộng tác viên; mở trại sáng tác ảnh cho 56 tay máy.

    Hưởng ứng cuộc thi "Tự hào truyền thống quê hương Yên Bái", Hội đã vận động hội viên tham gia và tham mưu cho tỉnh phát động cuộc thi sáng tác văn học, nghệ thuật về chủ đề này đến năm 2010; phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội mở cuộc thi ký nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ cùng với tham gia Triển lãm mỹ thuật khu vực lần thứ 8 tại tỉnh Lào Cai. Hội còn đăng cai tổ chức Liên hoan ảnh khu vực và đã giành được 1 Huy chương vàng, 3 Huy chương đồng và giải đồng đội. 

    Bằng sự cố gắng trong sáng tạo nghệ thuật, 65 tác giả hội viên công bố được 22 đầu sách, 27 bản nhạc, 23 tranh, tượng, 175 ảnh nghệ thuật. Hội biên tập, xuất bản 1 tuyển tập nhiếp ảnh và 1 tập thơ tuyển chọn cho hội viên cao tuổi.  Tạp chí Văn nghệ xuất bản 12 số, ngày càng nâng cao chất lượng nội dung nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

    Với thành tích trên, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen và Ủy ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen cho 15 hội viên có nhiều đóng góp xuất sắc.

    Theo YB

    Ấm áp, chân tình, chất lượng chuyên môn cao

    hvnyb | 19 April, 2008 10:26

     
    THUẦN VŨ
    Trong quãng thời gian từ ngày 17.3 đến 21.3, đoàn Sinh viên K10 (năm thứ nhất) khoa Sáng tác và lý luận- phê bình văn học (ST và LL-PBVH) thuộc Đại học văn hóa Hà Nội gồm 30 thành viên do nhà văn Văn Giá làm trưởng đoàn đã đi tham quan, thực tế, sáng tác tại tỉnh Yên Bái với trọng tâm là hai không gian địa – văn hóa: thành phố Yên Bái và thị xã Mường Lò. Trong chuyến đi này, Đoàn đã có buổi Tọa đàm, gặp gỡ, trao đổi chuyên môn với Hội văn học nghệ thuật (HVHNT) Yên Bái – nơi nhà thơ Dương Soái làm Chủ tịch Hội. Cuộc gặp gỡ này có sự tham gia của nhà thơ Ngọc Bái - nguyên Chủ tịch HVHNT Yên Bái, nhà văn Hoàng Thế Sinh cùng đông đảo các nhà văn nhà thơ sống và viết tại Yên Bái như: Hoàng Việt Quân, Vũ Quý, Hán Trung Châu, Vũ Chấn Nam, Lê Văn Lộc, Hoàng Bảo, Nguyễn Ngọc Trìu, Ngọc Chấn, Kiều Ngọc và nhiều cây bút khác.

     (Xem tiếp)

    Văn học nghệ thuật Yên Bái: Tự tin để bước tiếp

    hvnyb | 18 April, 2008 20:50

          Văn học nghệ thuật Yên Bái: Tự tin để bước tiếp

    YBĐT - Năm 2007, con số đầu tiên cần nhắc tới là đã có 65 tác giả (già nửa số hội viên của Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Yên Bái) có tác phẩm công bố, đó là chưa kể những tác phẩm công bố trên 12 số “Tạp chí Văn nghệ Yên Bái”, trên các tạp chí, báo Trung ương và các tỉnh bạn. (Xem tiếp)

    Yên Bái Một Vùng Quê

    hvnyb | 18 April, 2008 19:06

     

      Mời click vào đây để xem video 

    Gửi em ở cuối sông Hồng

    hvnyb | 18 April, 2008 19:03


    Dương Soái và “Gửi em ở cuối sông Hồng”...

    hvnyb | 18 April, 2008 18:39

    Dương Soái và “Gửi em ở cuối sông Hồng”...

     

    Dương Soái vừa tự hào lại vừa chạnh lòng với cái việc lúc nào người ta cũng chỉ biết tới anh như là tác giả có duy nhất một bài thơ hay Gửi em ở cuối sông Hồng.

    Duong Soai va Gui em o cuoi song Hong
    Dương Soái (phải) và tác giả bài viết
    Dẫu cái tên Dương Soái rất… tướng soái, lại thêm việc anh làm thơ với hình ảnh anh lính trận mạc nhớ người yêu ở đầu ngọn sông Hồng, thế cho nên ai cũng tưởng Dương Soái một đời là lính chiến.

    Thật ra thì Dương Soái - hiện là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Yên Bái - vốn là công nhân địa chất, 11 năm mưa đi tìm quặng ở Hoàng Liên Sơn (cũ). 11 năm ấy, anh “cũng kiếm được khoảng 30 bài thơ”.

    Sau 11 năm trò chuyện với từng vỉa tầng quả đất vừa già nua vừa tươi mới, Dương Soái làm phóng viên chiến trường trên mặt trận biên giới Lào Cai, hồi tháng 2/1979. Anh đi gần như trọn vẹn cuộc chiến tranh biên giới vùng Lào Cai, tận mắt nhìn thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng đã bật ra từ hoàn cảnh đó.

    Giữa hai trận đánh, anh ngồi trong căn nhà lá ở Phố Lu (là nhà khách của huyện) và làm… thơ. Anh viết trong tâm trạng của một người mong manh sinh tử ngoài mặt trận, muốn gửi tình yêu thương tha thiết ấy về với người hậu phương.

    Trong tâm trạng của một người yêu gửi một người yêu (thực tế, lúc bấy giờ, người vợ trẻ và gia đình Dương Soái cũng đang ở Duy Tiên, Hà Nam - cuối sông Hồng). Anh viết, khi anh nhớ tới những lá thư viết vội, viết dở, hoặc không kịp viết gì của những người lính trẻ ngoài mặt trận bỏng rát kia.

    Dương Soái trăn trở nhiều với thơ. Cho nên, cái buổi sáng nghe cô bạn bên trường Sư phạm nói: “Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng của anh được nhạc sỹ Thuận Yến phổ nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam vừa phát hay lắm”, Dương Soái rất phấn chấn. Đó là vào năm 1980.

    Từ đó, tên Dương Soái đã thêm một lần đóng đinh với Gửi em ở cuối sông Hồng, nhất là trong cái góc làng văn nghệ vốn vẫn lặng lặng với mây núi Hoàng Liên Sơn, nơi anh sống và công tác. Độ ấy, liên tục thính giả yêu cầu nhà đài phát lại bài Gửi em ở cuối sông Hồng.

    Không ngờ khoảng một năm sau, anh Sum - Người Mường, Giám đốc Nhà máy Thủy điện Thác Bà (Yên Bái) gọi điện mời Dương Soái tới nhà uống rượu. Dương Soái đến, mới ngã ngửa ra, khách là vợ chồng nhạc sỹ Thuận Yến.

    Vừa lên nghỉ mát ở hồ Thác Bà, nhạc sỹ Thuận Yến nóng lòng hỏi ngay địa chỉ thi sĩ Dương Soái để cảm ơn và nói lời tri kỷ. Lần đầu tiên hai tác giả Gửi em ở cuối sông Hồng gặp nhau và uống rượu. Nhạc sỹ trân trọng và chu đáo vô cùng với tác giả bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng.

    Bây giờ ngồi bàn lại câu chuyện Gửi em ở cuối sông Hồng, Dương Soái thầm cảm ơn nhạc sỹ Thuận Yến, người đã nhuận sắc cho bài thơ được đi vào lòng người yêu thơ, yêu nhạc.

    Rằng, thơ Dương Soái viết “Anh ở Lào Cai, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”, đấy là cái tình rất cụ thể của người chiến sỹ ở mặt trận Lào Cai bỏng lửa năm 1979, nhưng khi ông Thuận Yến phổ nhạc: “Anh ở biên cương, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”, tự dưng bài thơ phổ quát hơn, thơ bay rộng hơn trên khắp dải biên cương từ địa đầu Lũng Cú tới cực mũi Cà Mau.

    Hình như có những nhiều “hạt sạn” vui vui, và tính cục bộ trong một cuộc chiến ở một vùng phên giậu trong bài thơ đã được Thuận Yến “sửa sang” rất kỹ.

    Đến những đoạn như sau trong bài hát thì hoàn toàn không phải là của Dương Soái: “Em ở phương xa/ nơi con sông Hồng chảy về với biển/ ở trên anh đầu nguồn biên giới/ Cuối dòng sông nơi ấy em chờ./ Em ở phương xa/ cách mười sông ba núi bốn đèo”.

    Nhưng, cũng có những câu thơ hay nguyên bản của Dương Soái mà những người chỉ nghe nhạc thôi sẽ chưa có dịp được thưởng thức, khi người lính từ trên chốt chiến đấu xuống mặt nước nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, chàng ước ao: “Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng…/ Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy/ Em ra sông chắc là em sẽ thấy/ Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông”.

    Những câu thơ ấy đẹp và da diết đến day dứt lòng.

    Đỗ Doãn Hoàng

    Việt Báo (Theo_Tien_Phong)

     

    Đọc “khoảng lặng” của Ngọc Bái

    hvnyb | 18 April, 2008 18:29

            
           Đọc khoảng lặng Ngọc Bái
     

     
       Bên cạnh tựa “Khoảng lặng”, còn chua thêm   “Những bài thơ sáu câu”. Hẳn tác giả muốn trình làng một kiểu thơ nữa, không phải là “lục bát”, “hai câu”, “tứ tuyệt”… Nhưng thực ra “sáu câu”, hay bao nhiêu câu đi nữa, đâu có quan trọng gì! Tôi tạm chia thành ba nội dung của tập thơ này: về sự đời; tình yêu và về thơ. Năm nay Ngọc Bái đã bước sang tuổi lục tuần, sống qua bao thời kỳ; là người lính, chuyển ngành làm viên chức nhà nước, có lúc còn lên sếp (giám đốc Sở VHTT; Chủ tịch Hội Văn nghệ…). Trước đấy anh đã có 9 tập thơ, đây là tập thứ mười đúc kết những trải nghiệm của đời mình. Điều bao trùm tác giả muốn nói là, không ai vượt ra ngoài cái quy luật đào thải khắc nghiệt của thời gian. Ở bài Thời gian có sự cảnh báo: Người ta làm lụng người ta yêu đương/ Người ta tranh cãi người ta hằn thù/ Vui như cây cỏ buồn như cây cỏ…/ Trên mái đầu chớm bạc/ Thời gian xa càng xa. Hoặc như cái được, cái mất trong mỗi người cũng chỉ là: Khoảng trống bên này của những buồn vui/ Khoảng trống bên kia của nhiều mất mát (Tủ lệch). Để rồi: Nghe lá rụng mơ hồ trong tĩnh lặng/ Thấy bóng mình chìm khuất ở đâu đây (Con người). Trong bài Xử thế tác giả còn không ngại phơi bày thực tại phũ phàng đã có lúc diễn ra khi đương chức: Nơi làm việc tôi từng nghe dọa/ - Không theo cánh này lật đổ/ - Nếu quả vậy tôi xin chiến bại!/ Lẽ nào biến cơ quan thành bãi chiến trường… Trong một hoàn cảnh khác, nhà thơ lại chủ động đứng riêng ra, không thể a dua theo cơ chế thị trường: Vàng quy đổi đô-la/ Đô-la đổi ra đất/ Đất lại đổi thành vàng… Sỏi không quy đổi gì/ Nằm mơ mộng dưới trăng (Quy đổi).Viết về tình yêu, Ngọc Bái cũng có độ lùi để nhìn lại. Cả chục bài thơ tình trong tập, không bài nào trực diện, quyết liệt, yêu nồng cháy, song đều mang một nỗi buồn sâu lắng của tâm hồn đôn hậu, nhạy cảm: Anh và em nào có lỗi gì/ Chẳng lẽ yêu nhau lại là tội lỗi/ Nếu có trách là trách rừng trách bể/ Nên chúng mình không gặp để yêu nhau (Lỗi lầm); Em hư ảo làm sao ta tới/ Một giọt sương rơi khuyết lạnh vòm trời (Khuyết); Khổ thế không em và không biển/ Sóng gió làm chi đến bạc đầu (Màu sắc biển)…Tôi thích những bài luận về thơ. Ngọc Bái cũng như nhiều nhà thơ khác luôn ý thức được sự nghiệt ngã của nghiệp thơ: Thơ là vậy nếu chỉ còn xác chữ/ Tìm đâu nghĩa địa để chôn thơ? (Xác chữ); Có khoảnh khắc bạc từng sợi tóc/ Thơ thẩn vì một câu thơ (Thơ thẩn). Anh còn chỉ ra những cái khác người, lao động cực nhọc cùng sự cô đơn của thi sĩ: Cả đời cặm cụi làm thơ/ Làm sao thoát khỏi ngu ngơ hỡi người (Gia tài); Thơ khan uống cạn một mình/ Từng câu rút ruột trả cho tình biết đau (Lục cửu); Một ngọn đèn, một khuya, một bóng/ Anh như dấu lặng mỗi đêm (Khoảng lặng). Và anh lý giải, tại sao cần thơ, phải níu vào thơ để sống: Lúc yêu thăm thẳm, buồn thăm thẳm/ Thì giữa đường bỗng gặp thơ ca (Thơ ca).Cả tập có 81 bài đều cùng một mô-típ: Bốn câu đầu mở, giãi bày, hai câu kết triết lý. Đều đều vậy mà đọc không thấy nhàm chán. Trải qua bao buồn, vui, bao chông gai, sóng gió, nay tác giả dụng công chắt lọc ra những tình, ý từ khoảng lặng của đời mình, mà trân trọng trao gửi đến bạn đọc để cùng chia sẻ, ngẫm ngợi…

    PHẠM QUANG ĐẨU

    Ở “XỨ MƯA” CÓ HOÀNG THẾ SINH

    hvnyb | 18 April, 2008 18:17

    Ở “XỨ MƯA” CÓ HOÀNG THẾ SINH
     
         Văn Giá                                                                                                                 
     
      
    Tôi là người có cái may mắn được đọc hết các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh, kể từ những tác phẩm đầu tay cho đến tác phẩm gần đây nhất. Do đọc anh, làm bạn với anh đã nhiều năm, nên bao nhiêu hay dở của nhau đều hiểu cả. Vâng, nói hay dở là nói trong cõi văn chương thôi, nghĩa là cái nhan sắc và phẩm hạnh của một ngòi bút.

    Tôi vẫn cứ nghĩ, tất cả các tác phẩm mà Hoàng Thế Sinh viết ra, cả trong văn xuôi lẫn thơ, cả trong truyện ngắn lẫn tiểu thuyết, cả ký và truyện cười...đều hiện lên một cái nhìn nhất quán về cuộc đời: sự phân minh của đạo lý và công lý trong tư thế làm người. Chính vì thế mà thế giới nhân vật của anh bao giờ cũng được nhìn nhận và mô tả theo cái nhìn phân tuyến: một bên là những người tử tế, còn bên kia là những kẻ đểu cáng bất lương. Nơi ấy, người tử tế thường hay bị vùi dập, oan khuất, hay phải chịu thiệt thòi, còn những kẻ không ra gì thì đắc thắng, trâng tráo, mặc sức tác oai tác quái. Cái nhìn của nhà văn rất sòng phẳng. Có thể những người tử tế chưa chắc đã được cuộc đời đền bù, song dứt khoát những kẻ khốn nạn thể nào cũng bị quả báo. Đúng như tên một truyện ngắn của anh: Luật của rừng, trong đó có nhân vật thằng Lường lợn lòi sống độc ác, táng tận lương tâm, phá rừng, đánh người quản rừng cuối cùng bị gấu rừng vả vào mặt suýt chết. Nhân vật thằng Liêng trong Rừng thiêng cũng thế, cả đời chuyên làm những điều độc ác, cuối cùng bị lũ cuốn suýt toi mạng...Đại thể, cái nhìn về đời sống của Hoàng Thế Sinh bao giờ cũng dứt khoát, rạch ròi. Văn chương của anh là sự lên tiếng  nghiêm khắc của công lý và đạo lý. Đó cũng là khao khát nồng nhiệt và thường trực của nhà văn này. Cả đời anh không tiếc tâm huyết và bút lực để phát hiện và tôn vinh những con người nhỏ bé nhưng đầy dũng khí. Mặc dù bị cuộc đời bầm dập, nhưng họ vẫn bám trụ quyết liệt vào mảnh đất đời người để sống. Phải sống. Đó là tư thế của những Bảo Châu (Xứ mưa), Đam (Rừng thiêng)...Nhân vật người nông dân trong truyện ngắn Người nông dân nhỏ bé (vừa lọt vào vòng chung khảo cuộc thi truyện ngắn  mới đây của tuần báo Văn nghệ) cũng nhất quán trong một tinh thần chung ấy.
    Đọc truyện của Hoàng Thế Sinh, khi miêu tả nhân vật, thấy anh rất thích sử dụng tiếng hú gọi. Khi yêu nhau mê man trên một cánh rừng nào đó, bỗng  hú gọi. Khi đau khổ đơn độc, cùng cực trên rừng núi cũng hú gào. Khi một mình mơn man da thịt trong làn nước suối trong veo, cô gái cũng cất lên tiếng hú hát. Lúc bị rơi tõm lạc vào hang động, các nhân vật cũng hú hét...Hóa ra, các nhân vật của Hoàng Thế Sinh rất khỏe khoắn, mạnh mẽ, quyết liệt. Nhà văn muốn đẩy nhân vật đi hết tận cùng cái sự sống sôi sục bên trong nhân vật. Cũng có thể nhận thấy ở các nhân vật ấy một thói quen trong đời sống của người miền rừng. Họ sống chết với rừng, cả đời ăn ở với rừng, hình thành một thói quen sống giữa rừng: hú gọi. Hành vi hú gọi với nhiều sắc thái, cung bậc của cảm xúc, tâm trạng hình như thể hiện một bản năng sống của con người ở giữa không gian đại ngàn mà bất cứ ai cũng có. Con người trước không gian thiên nhiên, vũ trụ hoang sơ, hùng vĩ, vĩnh hằng thường hay hú hét lên để tự đo mình, để nhận ra mình không bị lút chìm, để thấy mình đang bám chặt mặt đất cần lao và nhiều hệ lụy, nhưng cũng đầy tình nghĩa này.
    Hoàng Thế Sinh là một cây bút hiện đang sung sức. Số lượng tác phẩm của anh cũng đã có trên mươi cuốn. Có một điều thật đáng quý ở nhà văn này là anh đặc biệt thủy chung gắn bó với núi rừng Yên Bái, tuy không phải là quê gốc, nhưng anh đã ăn đời ở kiếp cùng xứ sở này. Văn chương của anh đi vào đời sống tinh thần của người Yên Bái theo cái cách thật thú vị. Không ít các danh xưng đã trở nên thân thuộc của đồng rừng Yên Bái lại được đi ra từ các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh. Anh là người đầu tiên gọi mảnh đất tỉnh lỵ Yên Bái, bây giờ đã lên thành phố là XỨ MƯA. Anh cũng là người đầu tiên đặt tên cho một cái động đá là động THỦY TIÊN, gọi một hòn đảo trong lòng hồ Thác Bà là đảo TRINH NAM. Cái danh xưng BỤI HỒ tuy không hẳn do anh là người đầu tiên gọi, nhưng sau tiểu thuyết BỤI HỒ của anh, lại nhất là sau lần tiểu thuyết ấy được chuyển thể thành phim, thế là người dân Yên Bái có cách nói cửa miệng "Bụi hồ"...Văn chương đi vào cuộc sống theo những cách thật bất ngờ. Đó chẳng phải là sức sống của tác phẩm Hoàng Thế Sinh đó sao! Đó cũng chính là phần thưởng mà bạn đọc rộng rãi dành tặng cho anh.
    Mảnh đất văn chương Yên Bái đương đại đã có một nhà thơ Ngọc Bái, một nhà văn Hà Lâm Kỳ quen thuộc với  bạn đọc cả nước, và có không ít các cây bút sung sức khác. Các sáng tạo của nhà văn Hoàng Thế Sinh là một giọng điệu vạm vỡ góp phần làm cho văn chương xứ sở Yên Bái có sức lan xa, tỏa sức sống cùng với văn chương cả nước.
    Cái thủy thổ văn chương Yên Bái danh giá hiện nay không chỉ có Hoàng Thế Sinh. Nhưng cứ thử vắng Hoàng Thế Sinh mà xem...Nói thế, đã là văn nhân thì cũng chẳng lấy làm kiêu.
    Tôi thật vui khi được Hoàng Thế Sinh chọn để ghi vài lời nhân bộ ba tiểu thuyết của anh ra mắt cùng bạn đọc.
                                            Hà Nội chớm thu 2007
                                     VG

    (Bài giới thiệu trong bộ ba Tiểu thuyết tuyển chọn của Hoàng Thế Sinh, NXB Lao động, 2007)
     

    Giêng hai

    hvnyb | 16 April, 2008 17:41

     Dương Soái                                         

                    Giêng hai                   

                                               

    Đã qua rồi một, chạp
    Để ngày sang giêng, hai

    Tôi quét mùa đông sạch lại ngõ ngoài     

    Những chiếc lá đào cuối cùng rụng đỏ
    Nghe đất đẩy mùa xuân lên vỏ
    Lẩn trong cành, hoa đợi mưa giăng.

    Gió còn se đôi chút lạnh lùng
    Gọi én chao cánh vào trời rộng
    Niềm vui tôi ùa căng như mặt trống
    Gõ thập thùng trong tiếng pháo trẻ thơ.

    Lòng khẽ ngân câu hát chuyển mùa
    Giêng hai say phập phồng sắc cỏ
    Mạ xuống đồng chuyển mùa màng cho lúa
    Lá bật xoè sinh nở trao cây .

    Hương hoa bay thoả gió uống đầy
    Để thơm tho thổi tới ngày quả mọng
    Hạt mẩy rồi trả về đất lặng
    Lại nẩy chồi từ phấn nhuỵ giêng hai

    Long lanh mưa như ánh mắt cười
    Rung trong hoa những lời của mật
    Mùa xuân về ríu ran giọng hót
    Tiếng chim ùa vang giữa lòng tôi.

    Thời gian ơi! Thời gian cứ trôi
    Trong tôi giêng hai còn mãi trẻ
    Bởi thời gian là thời gian sinh nở
    Giêng hai là chồi, hương và hoa .

    1 2 3 4 5 6  Sau»

    LED Text Scroller