MỘT SỐ TRANH CỦA HỌA SỸ NGUYỄN ĐÌNH THI

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái

Một số tranh của họa sỹ Nguyễn Đình Thi-Hội VHNT Yên Bái
                                       
                             
                    
                                   Lễ  cấp  sắc

Tiếng khèn mùa xuân
Tranh sơn dầu Nguyễn Đình Thi



Bà cháu


Xuống chợ


Hoa rừng




Xuống chợ

More...

VIẾT VÀ NÓI THỪA

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái


Trong tiếng Việt có rất nhiều từ trong từ đa âm tưởng chừng vô nghĩa (như búa trong chợ búa pheo trong tre pheo qué trong gà qué...). Trên thực tế những từ này chính là những "từ tố mất nghĩa". Vì những "rắc rối" trong kho từ vựng này mà rất cần thận trọng khi sử dụng tiếng Việt sao cho khỏi... thừa chữ.

Câu chuyện dòng sông+

Xin bắt đầu vấn đề "rắc rối và phức tạp" bằng chuyện sông nước cho có vẻ... thơ mộng. Vả lại sông là một thực thể vốn quen thuộc gắn bó với đời sống của tất cả chúng ta... Nhưng bạn có biết từ sông hiện hữu trong tiếng Việt có từ bao giờ không?

Bằng công trình Nghiên cứu chữ Nôm (NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1981) tác giả Lê Văn Quán nêu nhiều chứng cớ và đi đến kết luận: Từ sông từng được dân ta sử dụng chậm nhất là vào thời nhà Lý (thế kỷ 11). Rất có thể từ này đã xuất hiện sớm hơn nhiều nữa. Biến thể ngữ âm của nó là song sung suông thông thỏỏng. Thí dụ: nậm Song và nậm Suông (phụ lưu của sông Chảy phía thượng nguồn) khe Sung (phụ lưu của sông Cả) nậm Thỏỏng tức Thông Lênh (thuộc tỉnh Lạng Sơn) An Thông (một tên cũ của sông Sài Gòn bây giờ)...

Tác giả Nguyễn Văn Âu qua sách Địa danh Việt Nam (NXB Giáo dục 1993) còn chỉ thêm: liên quan tới từ sông là từ krông rất phổ biến chủ yếu trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Chẳng hạn Krông Knô và Krông Ana ở Đác Lắc Krông Pôkô ở Gia Lai Kon Tum... Biến âm của nó chính là kôn/côn. Sông Côn ở Bình Định là thí dụ. Ca dao:
Côn giang cá chép mép son
Lại Giang cá bống trắng non vóc ngà

Biến âm kôn/côn cũng thấy tồn tại tít tận Quảng Ninh như Côn Tát Côn Nao Côn No... Từ này đối với tiếng Mường là khôông đối với tiếng Cham là kraung/krôn. Thí dụ KrônBiynh ở Phan Rang. Người Thái tại khu vực Tây Bắc lại gọi sông là khung: Khung Giang Khung Bích...

Mở rộng biên giới khảo sát chúng ta còn ngạc nhiên khi thấy sự tương đồng ngữ âm của từ đang đề cập. Với người Lào thì sông là kông/công: Mê Công. Các dân tộc cư ngụ phía nam Trung Quốc lại đọc là kôông và viết bằng chữ "công" kèm theo bộ "thủy". Đó chính là chữ giang (theo âm Hán - Việt).

Từ ấy hàng loạt con sông được định danh trên văn bản bằng chữ giang: Trường Giang Tây Giang Hắc Long Giang Bắc Giang Bằng Giang Lô Giang Đà Giang Nhuệ Giang Hương Giang Lại Giang... Xét về ngữ âm học lịch sử phải chăng giang trong tiếng Hán khởi nguồn từ sông trong tiếng Việt cổ hoặc các từ tương đương trong ngữ hệ Nam á xa xưa?

Những biến thể ngữ âm của sông trong tiếng Việt cổ như đã nêu theo Nguyễn Văn Âu còn chuyển thành slong. Phụ âm đầu "s" rơi rụng khi đã Hán hóa ra long. Và tùy cách hiểu khá chủ quan mà âm long được ghi bằng các dạng Hán tự khác nhau: hoặc chữ "long" có nghĩa là rồng hoặc chữ "long" mang nghĩa phát đạt. Cứ liệu ngôn ngữ học này chính là lời giải thích đầy sức thuyết phục trước câu hỏi oái ăm: Tại sao trên đất nước ta có quá nhiều dòng sông mang tên Long? Nào là sông Long Đầu (Lạng Sơn) Long Hầu (Thái Bình) Long Môn (một đoạn sông Đà) Hoàng Long (Ninh Bình) Thị Long (tức sông Cang ở Thanh Hóa) Kim Long (Huế) Minh Long (Quảng Ngãi) Dương Long (Bình Định) Xuân Long (Phú Yên) Phước Long (tức sông Đồng Nai)... Nào là sông Long ẩn Long Phương An Long Vĩnh Long Long Mỹ Long Xuyên Long Hổ Long Phú... là các chi lưu phụ lưu của sông Tiền và sông Hậu chằng chịt khắp đồng bằng sông Cửu Long.

Vâng thì long chính là sông đấy thôi. Một số trường hợp âm này còn biến thành lòng: sông Ba Lòng (Quảng Trị) sông Lòng Sông (Ninh Thuận - Bình Thuận) kinh/kênh Lòng Tàu (tên chữ là Long Tào ở TP Hồ Chí Minh)...

Như thế rõ ràng krông kôn khôông krôn khung... hoặc giang long lòng... gì cũng mang nghĩa "sông" cả. Vậy hóa ra chúng ta dùng từ "hơi bị" thừa khi gọi con sông ở Thái Nguyên là sông Công (sông Sông ư?) sông ở Quảng Trị là sông Ba Lòng (sông Ba Sông?) sông ở Bình Định là sông Côn (sông Sông?) sông ở Đác Lắc là sông Krông Knô (sông Sông Chồng?) và sông Krông Ana (sông Sông Vợ?)... Lâu nay mọi người cứ quen gọi sông Mê Công (sông Sông Mẹ) mà chẳng hề thắc mắc. Hỡi ôi!

Cần nói thêm rằng cũng tương tự ngôn ngữ của nhiều dân tộc trên thế giới từ chỉ sông của cộng đồng dân tộc Việt Nam - bao gồm người Kinh và các dân tộc thiểu số anh em - thường xuất phát từ một từ chỉ nước. Trong tư duy người cổ sông nước là khái niệm không tách bạch. Với người Thái đó là nậm: nậm Nu nậm Na... Tiếng Chăm là êa: êa Yeng êa Gip... Tiếng Ê Đê và Gia Rai là ia/ya: ya Dran ya Lap... Tiếng Mạ và Lạch là đa: Đa Nhim Đa Lát (biến âm thành Đà Lạt)... tiếng Mơ Nông là đạ Đạ Tẻh Đạ Đờng (tức Đồng Nai)... Tiếng Ba Na là đăk: Đăk Tô Đăk Sut Đăk Lăk... Tiếng Mường là đác được người Kinh gọi trại ra đức: Thiên Đức (sông Đuống) Chiêm Đức (sông Đáy) Nhật Đức (sông Thương) Nguyệt Đức (sông Cầu)... Tiếng Hoa là sui ghi chữ Hán thành thủy: Hồng Thủy (sông Hồng) Thanh Thủy (sông Lô)... Chừng ấy đủ thấy bao từ ngữ liên quan từng giao thoa tiếp biến trên cả địa bàn rộng lớn suốt thời gian dài dằng dặc.

Đến đây chắc bạn đủ giật mình nhận ra rằng tất cả chúng ta chẳng từ một ai thảy đều... nói lắp còn viết thì theo kiểu... cà lăm! ở Tây Bắc ta gọi sông Nậm Thỏỏng (sông Sông Sông?) và sông Khung Giang (sông Sông Sông?). ở Quảng Trị có sông Đakrông (lại sông Sông Sông?)... Lật bản đồ du lịch Việt Nam do Saigontourist in năm 1998 bạn sẽ thấy biết bao thủy danh bị ghi trùng lặp: Ia Krông Pôkô river (sông Sông Pôkô?) Ea Krông Ana river (sông Sông Sông Vợ) Đa Nhim river (sông Sông Nhim?)...

Xin lưu ý rằng hiện nay nhiều ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số đang tồn tại và phát triển một số còn được dùng để giảng dạy chính thức trong nhà trường thì cách gọi địa danh trùng lặp như trên liệu có nên chăng? Nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt bao phen chúng ta phản đối cách nói và viết thừa như "sông Hồng Hà" "sông Hương Giang" hoặc "núi Cấm Sơn" "chùa Thiếu Lâm Tự"... Vậy chúng ta sẽ xử lý sao đây trước vô số tên sông bấy nay cứ bị nói lắp và viết theo lối... cà lăm như tôi đã trình bày?

Các từ tố ngỡ vô nghĩa

Một giáo viên môn văn ở trường phổ thông nọ nhiều năm liền nổi tiếng dạy giỏi song lần ấy thực sự lúng túng khi học trò tò mò hỏi nghĩa một loạt từ quá ư quen thuộc:

- Thưa tăm trong tối tăm nghĩa là gì? Bầu bạn gìn giữ thì bầu và gìn nghĩa là gì? Chợ búa chùa chiền đất đai ít ỏi thì búa chiền đai ỏi nghĩa là gì?

Quả thật trong hệ thống từ ghép của tiếng Việt hiện đại nhất là những từ ghép song tiết bên cạnh các từ mà mỗi yếu tố đều có nghĩa rõ rệt lại tồn tại khá nhiều từ chứa một yếu tố rất khó cắt nghĩa tỏ tường. Yếu tố không mang ý nghĩa từ vựng cụ thể đó thường được các nhà ngôn ngữ học gọi là "từ tố vô nghĩa".

Thực ra gọi "từ tố vô nghĩa" là với cách nhìn hiện thời ở dạng tĩnh tại. Nếu truy cứu từ nguyên sẽ thấy rằng chúng là những "từ tố có nghĩa". Xét theo trục lịch đại như thế chúng chính là "từ tố mất nghĩa". Bàn vấn đề này tác giả Nguyễn Ngọc San đã viết trong sách Tìm hiểu về tiếng Việt lịch sử (NXB Giáo dục 1993): "Hiện tượng mất nghĩa đồng thời cũng là hiện tượng xuống giá của một số từ bị loại ra hoặc bị hạn chế ở phạm vi sử dụng của một ngôn ngữ. Việc tìm hiểu giá trị ngữ nghĩa của những yếu tố mất nghĩa này là một bộ phận của việc nghiên cứu từ vựng lịch sử. Nó giúp ích nhiều cho việc định vị các lớp từ cũng như việc giải thích các văn bản lịch sử".

Tìm hiểu ý nghĩa những từ tố vô nghĩa là việc làm khá thú vị và tốn lắm công phu. Tại hội nghị Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ tổ chức ở Hà Nội vào tháng 10-1979 Phạm Hùng Việt (Viện Ngôn ngữ học) đã nêu con số thống kê: trong tổng số khoảng 24.500 từ đa âm của tiếng Việt có khoảng 2.800 đơn vị mang yếu tố vô nghĩa. Giải quyết đầy đủ chừng ấy khối lượng nào phải chuyện dễ dàng. Lại thêm phải tham khảo biết bao tài liệu về tiếng Việt cổ và nhiều thứ tiếng của các dân tộc có quan hệ với tiếng Việt về tiếng địa phương các vùng miền trên toàn quốc về thuật ngữ của một số nghề truyền thống về những tác phẩm folklore cũng như văn thơ từ thế kỷ 19 trở về trước v.v... Nghĩa là phải vận dụng kiến thức đa ngành liên ngành và xuyên ngành - chuyện cũng chẳng dễ dàng chi.

Trên tạp chí Ngôn Ngữ số 2 năm 1970 tác giả Vương Lộc bước đầu tìm được ý nghĩa của 34 yếu tố. Năm 1979 Phạm Hùng Việt công bố thêm 22 yếu tố khác vừa được khôi phục nghĩa. Đến nay tổng số từ tố vô nghĩa đã tìm lại ý nghĩa chỉ xấp xỉ con số 100. Nói chung là công việc tiến triển rất chậm. Tuy nhiên với những kết quả đã đạt được bạn có thể phần nào "vén màn bí mật" hiện hữu ngay trong "kho tàng của chúng ta": tiếng mẹ đẻ.

Từ tố vô nghĩa thật sự

ở đây chúng ta sẽ không xét đến trường hợp từ ghép theo kiểu chính phụ mà trong đó một yếu tố tuy mang nghĩa rõ ràng ai cũng biết song đóng vai trò "hờ hững cũng như không". Chẳng hạn như cửa trong nhà cửa hoặc ăn trong ăn nói ăn mặc...

Các yếu tố trong hàng loạt từ phiên âm đích thị là vô nghĩa nếu tách rời. Thí dụ: xà bông / xà phòng (do tiếng Bồ Đào Nha sa bão và tiếng Pháp savon) hủ tíu / hủ tiếu (do tiếng Triều Châu cổ chéo mà âm Hán Việt là quả điều) phô mai / phó mát (do tiếng Pháp formage) mít tinh (do tiếng Anh meeting ) lô cốt (do tiếng Đức blockhaus) ghi ta (do tiếng ý gitarre và tiếng Pháp guitare tiếng Anh guitar) sát na (do tiếng Sanskrit ksana phiên âm qua tiếng Hán) lì xì (do tiếng Quảng Đông mà âm Hán - Việt là lợi thị)... Có thể nói trừ một ít trường hợp ngoại lệ thì đại đa số từ tố phiên âm tiếng nước ngoài đều không mang nghĩa và chúng chỉ có nghĩa khi tập hợp đủ yếu tố cần thiết.

Tương tự như thế các yếu tố trong những tổ hợp song tiết hoặc đa tiết sau đây thực sự vô nghĩa: tùm lum thè lè lớ ngớ ba lăng nhăng... Nhiều người xác định đây là những từ láy thuần Việt. Đúng ra chúng là từ gốc Môn - Khmer đã được du nhập vào tiếng Việt. Tlum tiếng Cam-pu-chia có nghĩa là rộng ta phiên âm và phát triển nghĩa thành tùm lum. Còn thè lè thì phiên từ thle (nghĩa gốc là giơ ra thòi ra) lớ ngớ vốn từ lngơ (nghĩa gốc: lạ lẫm) ba lăng nhăng xuất phát bởi blanhang (nghĩa gốc: vớ vẩn)... Tiêng Malaysia cũng góp nhiều từ vào kho tàng tiếng Việt qua con đường phiên âm: xà ích (do chữ saìs) mã tà (do chữ mata-mata)... Thí dụ một câu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ Đồ Chiểu: Kẻ đâm ngang người chém dọc làm cho mã tà ma ní hồn kinh.

Từ tố mất nghĩa

Theo các nhà nghiên cứu tiếng Việt thuở xa xưa về cơ bản sử dụng toàn từ đơn: mỗi tiếng là một từ mang nghĩa độc lập. Trong quá trình phát triển từ kép hình thành do ghép các từ đơn lại biến từ đơn thành những yếu tố tạo từ và qua thời gian với nhiều biến động không ít từ đơn bị lãng quên ý nghĩa.

Tuy nhiên hiện nay còn lắm từ đối với tiếng Việt phổ thông có thể vô nghĩa song ở một số địa phương thì vẫn bảo lưu trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Nếu đi dọc dải đất duyên hải bắc Trung Bộ bạn sẽ bắt gặp đây đó những từ lạ tai. Chẳng hạn ở Nghệ An Hà Tĩnh bà con nông thôn vẫn gọi mảnh sân trước nhà là cái cươi ông táo (đầu rau) là núc chợ nhỏ là búa. Còn ở Quảng Bình Quảng Trị có nơi vẫn gọi con trâu là "cậu" tria quét là tước. Người Thừa Thiên - Huế không gọi cây lúa con là mạ mà gọi là má và chỉ tình trạng rất ngon/ rất say/ rất chín thì gọi là muồi. Ca dao:
Ru em em théc (ngủ) cho muồi
Để mạ (mẹ) đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh...

Qua đây chúng ta đã có thể hiểu đầy đủ ý nghĩa các yếu tố trong loạt từ: sân cươi bếp núc chợ búa trâu tria quét tước lúa má chín muồi.

Thế bầu trong bầu bạn và cộ trong xe cộ thì nghĩa là gì? Qua bài Nguồn gốc một số yếu tố mất nghĩa trong từ ghép đẳng lập tác giả Vương Lộc chỉ ra rằng có địa phương ở Nam Bộ gọi bằng hữu là bầu. Chúng ta cũng gặp các nhóm lâm dân cùng đi vào rừng ăn ong hái nấm đẵn củi... Họ gọi nhau là bầu hoặc xâu. Còn cộ thì Từ điển phương ngữ Nam Bộ do Nguyễn Văn ái chủ biên (NXB TP Hồ Chí Minh 1994) cắt nghĩa và nêu thí dụ: "Xe quệt: Trâu kéo cộ. Một cộ lúa". Vậy đã rõ: bầu = bạn; xe = cộ.

Từ tố ngặt trong ngặt nghèo / nghèo ngặt và âu trong âu sầu / âu lo / lo âu nên hiểu thế nào? Nếu ghé thăm đất võ Bình Định bạn sẽ nghe những câu như: "Con bé đó đánh roi ngặt lắm!". Hoặc: "Đề thi năm nay sao ngặt quá!". Hóa ra ngặt là hiểm hóc gay cấn éo le khó khăn khổ sở túng thiếu... Thì nghèo túng cũng như nghèo ngặt và nguy ngặt khác gì ngặt nghèo. Lật lại Quốc âm thi tập của thi hào Nguyễn Trãi (1380-1442) bạn cũng thấy từ này xuất hiện ở bài thơ số 18:
Đêm thanh nguyệt hiện ngoài hiên trúc
Ngày vắng chim kêu cuối khóm hoa
Quân tử hãy lăm (chăm) bền chí cũ
Chẳng âu ngặt chẳng âu già.

Qua đó chúng ta không chỉ hiểu từ ngặt mà còn biết thêm âu=lo. Hay thật! Tác phẩm văn chương cổ điển góp phần soi sáng ý nghĩa bao từ tố bấy lâu nay ngỡ như vô nghĩa...

Tác phẩm văn chương cổ điển của nước nhà còn giúp chúng ta rất nhiều trong việc khôi phục ý nghĩa bao từ tố bấy lâu ngỡ chừng vô nghĩa. Chỉ riêng Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi sáng tác từ thế kỷ 15 đã cung cấp hàng loạt cứ liệu quý báu. Chẳng hạn bài số 190 tiêu đề Răn sắc:
Sắc là giặc đam làm chi!
Thuở trọng còn phòng có thuở nguy
Trụ mất quốc gia vì Đát Kỷ
Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi...

ở câu mở đầu có chữ đam nghĩa là ham muốn say đắm. Điểm ấy hẳn giúp bạn lý giải được từ đam mê. Cũng với thi tập này chúng ta biết tây và tư đều có nghĩa là riêng qua các câu Mựa (chớ) nghe sàm nịnh có lòng tây và Khí dương hòa khó có tư ai. Từ bợ nghĩa là tạm trong câu: Dành để nhi tôn khỏi bợ vay. Từ ruồng là bỏ trong câu Lành người đến dữ người ruồng. Từ dợ là dây trong câu: Dợ dứt (đứt) khôn cầm bà ngựa dữ. Từ mống là mầm trong câu: Có mống tự nhiên lại có cây. Từ tác là tuổi trong câu: Bạn tác rẻ roi đà phải chịu... Chừng ấy đủ để thấy cả hai yếu tố đồng nghĩa đối với loại từ vừa trưng dẫn: riêng tây riêng tư tạm bợ ruồng bỏ dây dợ tuổi tác mầm mống.

Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) lại là một nguồn tư liệu của thế kỷ 16 giúp chúng ta hiểu các yếu tố đã mất nghĩa trong loạt từ: giữ gìn / gìn giữ nể vì / vì nể đất đai... Hai yếu tố của mỗi từ đều mang ý nghĩa hệt nhau. Thú vị vô cùng khi bắt gặp từ nóng sốt. Yếu tố sốt từng được nhiều người giải thích rằng đây là phiên âm tính từ chaude (nóng) của Pháp. Đó là cách giải thích gượng ép! Bởi nếu phiên thì ta thường dựa vào tính từ giống đực chaud và phải ghi âm là sô mới hợp. Thí dụ: nổi sô (như nổi xung nổi đóa). Chẳng qua vì từ tố sốt trong nóng sốt bị phai nghĩa khiến thiên hạ lúng túng nên đành... khiên cưỡng khi phải phân tích chứ thực ra đây là từ Việt cổ từng xuất hiện trong thơ Trạng Trình:
Khát uống chè mai hơi ngọt ngọt
Sốt kề hiên nguyệt gió hiu hiu
Giang sơn tám bức là tranh vẽ
Phong cảnh tư mùa ấy gấm thêu...

Tập Thiên nam ngữ lục bộ sử ca trường tiên của tác giả khuyết danh được xem là tác phẩm thơ Nôm dài nhất trong kho tàng văn học cổ điển Việt Nam ra đời khoảng cuối thế kỷ 17 (thời chúa Trịnh Căn) cũng cho chúng ta những hiểu biết về các từ pha trong xông pha hoặc lệ trong e lệ / e ngại e sợ...

Ngay cả Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820) tác phẩm quá quen thuộc với mọi người vẫn giúp bạn soát xét lại ý nghĩa nhiều từ tố mất nghĩa. Chẳng hạn han trong hỏi han qua câu:

Trước xe lơi lả han chào
Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi...

Han nghĩa là hỏi. Tiếng Việt xưa cũng như tiếng Mường nay đều dùng từ han theo nghĩa đó.

Tìm tòi trong tiếng Mường nói riêng các thứ tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung chúng ta sẽ phát hiện lắm điều thú vị. Nếu biết người Mường gọi con đường hoặc lối phố là sá / xá bạn hiểu ngay vì sao tiếng Việt có các từ đường sá và phố xá. Bà con người Mường gọi hàng rào được trồng bằng cây cối là cõi. Đó chính là một từ tố trong bờ cõi/ cõi bờ. Mầu xanh với người Mường là lè. Chữ xanh lè đã xuất hiện bằng cách ghép hai từ đồng nghĩa.

Thế xanh ngắt thì sao? Xin thưa ngắt trong ngôn ngữ Hơ Rê cũng có nghĩa là mầu xanh. Người Hơ Rê và người Ba Na còn nói gỡ để chỉ cái sự gặp nói tăm để chỉ bóng tối.

Chắc bạn không tránh khỏi ngạc nhiên khi hay rằng trong loạt từ chó má súng ống xin xỏ tre pheo mưa móc áo xống... thì yếu tố thứ nhì của mỗi từ đều thuộc ngôn ngữ Tày - Thái. Bà con Tày - Thái gọi con chó là má khẩu súng là ống cây tre là pheo xin là xỏ. Với họ sương hoặc mưa bụi được gọi là móc còn xống là từ dùng để chỉ cái váy. Trong một báo cáo ngôn ngữ học năm 1986 tác giả Đoàn Thiện Thuật cho rằng nếu loại bỏ hiện tượng vay mượn ở lớp từ văn hóa xảy ra sau năm 1945 mà chỉ tính lớp từ cơ bản thì số lượng từ vựng chung Việt - Tày chiếm tới 28%.

Đối chiếu với ngôn ngữ Môn - Khmer chúng ta lại tìm được thêm lắm cứ liệu đặc sắc. Từ gốc Môn - Khmer của luốc là nhọ nồi. Ta có lem luốc / nhem nhuốc. Rậm rạp từ gốc là chúc. Ta có chen chúc. Ngoài ra còn thấy trong tiếng Môn - Khmer: veo nghĩa gốc là trong ngắt là váng nhằm là ăn khốc là khô... Âu chẳng phải trùng hợp ngẫu nhiên!

*
* *

Như đã trình bày bao từ tố lâu nay chúng ta ngỡ là "vô nghĩa" song thật ra lại hoàn toàn có nghĩa. Toàn bộ các từ vừa khảo sát đều cấu tạo theo phương thức đẳng lập: A = B. Trừ một ít trường hợp dạng áo xống (áo + váy) còn hầu hết đều ghép đôi từ tố cùng nghĩa: sân = cươi; bếp = núc; chợ = búa; bầu = bạn; âu = lo; đam = mê; tạm = bợ; dây = dợ; ruồng =bỏ; mầm = mống; tuổi = tác; nóng = sốt; xông = pha; hỏi = han; đường = sá; gặp = gỡ; tối = tăm; chó = má; súng = ống; tre = pheo; trâu = tria; xin = xỏ; khô = khốc; phố = xá v.v...

Xét từ nguyên đại đa số đều đồng nghĩa gần như tuyệt đối. Nếu thế hóa ra bấy lâu chúng ta đều... nói lắp và viết theo lối... cà lăm ư? Thì nói giữ gìn / gìn giữ có khác chi nói giữ gìn với gìn giữ? Viết riêng tây / riêng tư nào khác gì viết riêng riêng tây tây tư tư?

Bạn có thể phản biện: Không phải! Trong hành ngôn người ta vẫn dùng từ "cặp kè đồng nghĩa" mà yếu tố nào cũng rõ nghĩa nhằm tỏ ý nhấn mạnh hoặc đơn thuần là để làm nội dung diễn đạt được rõ hơn đủ hơn. Tiếng Việt vẫn có nhiều từ kiểu đó như thiếu hụt dư thừa đầy đủ to lớn bé nhỏ sinh đẻ thương yêu chăn mền mũ mão gào thét la hét hát ca... kia mà.

Đồng ý những lấy nội dung làm mục tiêu các từ ngữ kiểu đó còn có giá trị về mặt hình thức: hoặc tạo nhạc điệu cho câu văn hoặc giúp câu văn khỏi bị thô cộc. Và không chỉ tiếng Việt một số ngôn ngữ khác cũng chứa nhiều từ ngữ kiểu đó; ví dụ tiếng Hán với khiếm khuyết khuếch trương cường tráng sung túc sung mãn quang minh vĩ đại...

Thế nhưng thực tế hiện nay chúng ta vẫn bắt gặp đây đó những cách nói cách viết thừa thãi đến... lẩm cẩm. Thí dụ: Một công trình to lớn vĩ đại (!). Hoặc: Vận động viên Z đang trong thời kỳ khỏe mạnh cường tráng (!). Lối diễn đạt ấy tương tự sông Hồng Hà núi Cấm Sơn chùa Thiếu Lâm Tự (!). Cũng như vậy bạn hãy liên hệ các thủy danh đang phổ biến mà tôi đã đề cập: sông Công (= sông Sông?) sông Côn (= sông Sông?) sông Nậm Thỏỏng (= sông Sông Sông?) sông Khung Giang (sông Sông Sông?) sông Đakrông (sông Sông Sông?)...

Đối với công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt chỉ riêng về mặt chỉnh sửa địa danh tôi xin nêu một trường hợp được xem là tích cực ở khu vực Gia Lai - Phú Yên: Krông Pha bà con người Việt quanh đấy gọi thành sông Pha / sông Ba. Phải chăng đó là gợi ý hữu ích để tránh bớt hiện tượng nói... lắp và viết kiểu... cà lăm mà chúng ta vẫn thường mắc phải rất vô tình song đâu dễ ai ai cũng ý thức được một cách đầy đủ.

"Bệnh" thừa chữ

Nói lắp còn gọi là cà lăm hoặc cà lăm cà lặp. Hiện tượng ấy được các tâm lý gia xem là một thể của bệnh rối loạn ngôn ngữ.

Theo nhiều tài liệu tâm lý học thực nghiệm cà lăm nói riêng rối loạn ngôn ngữ nói chung vốn do những khiếm khuyết nhất định trong bán cầu não trái. Hiện tượng đó được xếp vào loại "sai sót riêng biệt" hoặc "lệch lạc chức năng". Có hai điểm đáng lưu ý:

1. Bệnh cà lăm có thể chữa khỏi hoàn toàn thông qua tập luyện kết hợp với tâm lý liệu pháp. Phương thức thường được áp dụng: đối tượng dưới 6 tuổi rèn phát âm cùng điều hòa hơi thở; đối tượng lớn hơn cần thêm các bài thư giãn và nhất là các hướng dẫn khoa học về ngôn ngữ. Ngoại trừ những người bị rối loạn tâm thần nặng hầu hết trường hợp cà lăm đều được điều trị đạt hiệu quả trong thời gian ngắn.

2. Tật cà lăm không chỉ thể hiện ở việc phát ngôn (nói lắp) như thường thấy mà trong một số trường hợp còn biểu lộ bằng hoạt động viết!

Thực tế nói cà lăm rất dễ nhận biết song "viết cà lăm" lại khó phát hiện hơn. Nếu bình tâm phân tích kỹ càng hẳn bạn cùng tôi đều ngạc nhiên khi thấy rằng nhiều người bình thường sao lắm lúc vẫn cứ... cà lăm cà lặp dù chưa ý thức rõ điều đó. Lẽ dĩ nhiên đấy chẳng phải cà lăm bệnh lý. Mà đấy là cà lăm tập quán tạm gọi "bệnh" thừa chữ. "Triệu chứng" bộc lộ căn "bệnh" này chao ôi đầy rẫy vì quá ư... phổ biến! Do trang báo có hạn tôi chỉ xin điểm sơ vài thí dụ.

Với phương thức tạo từ tiếng Việt nhằm trỏ một người làm một nghề một việc chuyên môn nào đấy chúng ta có hai lối:

- Theo mô hình nhà + x; hoặc thầy + x; hoặc người + x. Như: nhà giáo nhà báo nhà văn thầy giáo thầy lang người thợ...

- Theo mô hình x + gia / giá / sĩ / viên / thú / nhân / dân... Như: triết gia học giả bác sĩ giáo viên thủy thủ công nhân nông dân...

Đúng lô-gích nếu sử dụng mô hình này thì khỏi sử dụng mô hình khác. Thấy học trò viết "nhà triết gia" "nha văn sĩ" hoặc "người ân nhân" thầy cô giáo liền phê: kết cấu dư cú pháp dùng thừa chữ! Vậy quý cô thầy nghĩ sao với ca khúc phổ biến trong ngành giáo dục mang tiêu đề Bài ca người giáo viên nhân dân nhí? Tương tự trường hợp người giáo viên còn có: đường quốc lộ cây cổ thụ lòng nhiệt tâm sách binh thư... Một bài thơ quen thuộc cũng có những câu:
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ (!)

Nói và viết thế nào khác gì "sông Hồng Hà" "sông Hương Giang " "núi Cấm Sơn" "chùa Thiếu Lâm Tự"! Xem xét từ khía cạnh lô-gích học chuyên luận Câu sai và câu mơ hồ của Nguyễn Đức Dân và Trần Thị Ngọc Lang (NXB Giáo dục 1993) đã vạch ra nguyên nhân: "Những kết cấu dư cú pháp chính là kết quả của hiện tượng chập cấu trúc". Công trình nghiên cứu này còn trưng dẫn nhiều thí dụ về chập cấu trúc của các cây bút nổi tiếng và chỉ rõ: "Nhiều người có uy tín về cách dùng ngôn từ cũng có khi viết những câu sai!".

Trên bình diện ngữ học chúng ta còn thấy biết bao danh xưng của các cơ quan ban ngành trong nước bị chập cấu trúc. Chẳng hạn Trung tâm sâm và dược liệu. Sâm há chẳng phải dược liệu ư? Những danh xưng kiểu đó sở dĩ xuất hiện một cách phi lô-gích vì vô số lý do xã hội - lịch sử cụ thể nhất thời; thiển nghĩ để tồn tại quá lâu e không ổn nếu xét về phương diện gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt!

Cũng theo lô-gích hai lần phủ định lại là khẳng định. Vậy mà trước một vài cơ quan doanh trại... vẫn treo biển: Cấm miễn vào! Nội dung yết thế có nghĩa: buộc phải vào! Có nơi thì dán thông báo: Cấm không được hút thuốc (!). Nguy hại nhất là những văn bản hành chính - pháp lý nếu lỡ phạm phải tật "phủ định cà lăm" thì có thể xảy ra hậu quả ngược ý đồ của người ban hành. Hãy thử đọc một quyết định miễn nhiệm do Bộ nọ công bố: "Ông N từ nay thôi không giữ chức vụ...". Rõ ràng là thừa một trong hai từ hoặc thôi hoặc không. Chứ thôi không đi kèm nhau thì nên hiểu là "còn". Hỡi ôi!

Trong sinh hoạt thường nhật ngoại trừ cố ý điệp từ để nhấn mạnh ý nghĩa hoặc làm đẹp câu văn chúng ta vẫn mắc "bệnh" thừa chữ. Thí dụ: Tự mình làm lấy cho mình... Đã tự thì khỏi dùng cho mình và ngược lại. Hoặc: Toàn thể cả lớp / Toàn bộ cả xã.

Về thủ pháp điệp từ nếu khéo vận dụng chúng ta sẽ tạo được những câu văn đoạn văn hay vì giàu hình ảnh giàu nhạc điệu và biểu cảm. Cách láy đi láy lại một số chữ trong Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc đã trở thành mẫu mực của việc "chơi" thủ pháp này:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Loạt từ song tiết tiếng Việt cấu tạo theo phương thức đồng nghĩa A = B mà tôi đề cập ở kỳ trước cũng là một dạng điệp từ. Những điệp từ kia đẹp hẳn lên qua áng Kiều của Tố Như:
Nào người phượng chạ loan chung
Nào người tiếc lục tham hồng là ai?
Đã không kẻ đoái người hoài
Sẵn đây ta thắp một vài nén hương...

Tuy nhiên không phải bất kỳ tình huống nào cũng nên điệp từ - đặc biệt là gặp trường hợp phủ định như vừa nêu.

Đối với hàng loạt thủy danh đang phổ biến mà tôi từng đề cập ở kỳ đầu kiểu sông Công (= sông Sông) hoặc sông Kôn (= sông Sông) sông Đakrông (= sông Sông Sông) là vấn đề thuộc ngôn ngữ học lịch sử chưa dễ gì chỉnh sửa theo phương án tối ưu ngày một ngày hai. Còn "bệnh" thừa chữ cấp tính mà chúng ta đang tạo ra và mắc phải cũng có thể xếp vào loại "sai sót riêng biệt" hay "lệch lạc chức năng" thì hoàn toàn đủ sức "điều trị đạt hiệu quả trong thời gian ngắn" bằng nỗ lực của cả cộng đồng với một điều kiện tiên quyết: thực sự cầu thị trên tinh thần yêu quý tiếng nước nhà.
Dương Xuân Thương
(Tạp chí Tài hoa trẻ)

More...

CÁCH NÓI CÁCH VIẾT CỦA BÁC HỒ

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái


Đặc trưng nổi bật trong phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tính phù hợp một cách tự nhiên nhuần nhuyễn giữa ngôn từ cách diễn đạt trong bài nói bài viết của Người với trình độ nhận thức sự hiểu biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người đọc người nghe. Nhờ đó bài nói bài viết của Người luôn đạt được sự thấm thía và có sức thuyết phục mạnh mẽ.

Trong cuộc đời hoạt động của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi ngôn ngữ là công cụ đắc lực không thể thiếu để tuyên truyền giác ngộ ý thức cách mạng củng cố và nâng cao nhận thức xã hội trong cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân mà ai cũng phải "cố gắng học tập" "ra công rèn luyện" để nắm được đặc tính của nó và sử dụng nó một cách có hiệu quả nhất trong thực tiễn hoạt động cách mạng. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh nói và viết không phải đơn thuần chỉ là một hành động thông tin mà còn chủ yếu là một quá trình tác động lên người nghe người đọc nhằm thuyết phục họ cảm hóa họ làm họ thay đổi nhận thức thay đổi quan niệm tình cảm thẩm mỹ và hành vi hướng họ vào các hoạt động thực tiễn phù hợp xu hướng tiến bộ của xã hội của thời đại. Quan hệ giữa thông tin và tác động thì thông tin là phương tiện tác động là mục đích.

Như vậy mục đích nói và viết trong cách quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở chỗ làm cho người nghe người đọc hiểu về điều được nói được viết mà cái cốt yếu là còn tác động lên người nghe người đọc làm họ thay đổi nhận thức ý nghĩ tình cảm trên cơ sở đó làm thay đổi hành vi của họ hướng họ vào hành động theo nhận thức mới.

Điều nói trên cho phép cắt nghĩa tại sao trong suốt cuộc đời hoạt động của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đến việc rèn luyện cách nói cách viết như rèn giũa một thứ công cụ chuyên dụng và luôn luôn khuyên cán bộ đảng viên nhà báo nhà văn người tuyên truyền cũng làm như thế.

Cái cốt lõi thứ hai trong tư tưởng sử dụng ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là coi hiệu quả tác động của bài nói bài viết phụ thuộc rất đáng kể vào tính ý thức của người nói người viết về mục đích nói và viết của mình trước người nghe người đọc và trước xã hội. Người nói người viết có trách nhiệm không bao giờ được vô tình với người nghe người đọc. Tư tưởng đó được đúc kết lại trong năm luận đề làm thành một chỉnh thể có mối quan hệ tác động qua lại dưới đây:

Ai nói ai viết; Nói hoặc viết cho ai nghe ai đọc; Nói hoặc viết cái gì; Nói hoặc viết để làm gì nhằm mục đích gì; Nên nói hoặc viết như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất.

Năm câu hỏi trên quả nhiên buộc người nói người viết phải suy nghĩ cân nhắc kỹ lưỡng về cương vị xã hội - công dân của bản thân mình xác định thật rõ về ý đồ mục đích bài nói bài viết về các đặc điểm tâm lý lứa tuổi giới tính nghề nghiệp học vấn vốn sống thị hiếu thẩm mỹ của đối tượng mà mình hướng tới về cách lựa chọn các từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật thích hợp khi nói và viết.

Điểm cốt lõi thứ ba trong quan niệm sử dụng ngôn ngữ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là mỗi đối tượng phải có một cách nói cách viết khác nhau phù hợp trình độ học vấn trình độ nhận thức xã hội quan niệm thẩm mỹ và các đặc điểm về tâm lý lứa tuổi giới tính nghề nghiệp tôn giáo tín ngưỡng của từng nhóm đối tượng. Công chúng ở thời nào cũng vậy bao giờ cũng là một cộng đồng xã hội phân tầng theo các nhóm khác nhau về trình độ nhận thức học vấn thẩm mỹ động cơ quyền lợi tôn giáo quan điểm tư tưởng. Đặc tính xã hội - tâm lý của đối tượng đã chi phối gần như toàn bộ cách lựa chọn từ ngữ và các thủ pháp nghệ thuật cách trình bày bố cục của bài nói bài viết của Bác Hồ.

Ngôn ngữ trong các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sản phẩm độc đáo đa dạng của quá trình hoạt động hơn nửa thế kỷ của một nhà cách mạng có lý luận; nhà hoạt động chính trị ngoại giao nhiều kinh nghiệm am tường sự thế; nhà tuyên truyền nắm chắc mục đích và thấu hiểu đối tượng; một nhà báo sắc sảo có bản lĩnh; một nhà giáo dục sâu sắc tế nhị; một người viết văn làm thơ có ý hướng rõ rệt; một người cộng sự tin cẩn một người bạn tâm tình gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân; một Bác Hồ kính yêu phúc hậu của các cháu thiếu niên nhi đồng; một vị Chủ tịch nước có uy tín lớn cương nghị kiên quyết với kẻ thù đúng mực nhân ái với kẻ lầm đường lạc lối toàn tâm toàn ý với nước với dân. Thâm nhập hết thảy cương vị của Người là một chiến sĩ cộng sản xuất sắc một nhà văn hóa lớn có năng lực ứng xử xã hội tài tình và năng lực ứng xử ngôn ngữ đa dạng tinh tế thâm thúy có sức thuyết phục đặc biệt.

Đặc trưng nổi bật trong phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tính phù hợp một cách tự nhiên nhuần nhuyễn giữa ngôn từ cách diễn đạt trong bài nói bài viết của Người với tầm mức văn hóa trình độ nhận thức sự hiểu biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người nghe người đọc và hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Hồ Chí Minh ý thức rất rõ rằng hiệu quả cuối cùng và cao nhất của bài nói bài viết chính là ở mức cảm thụ được ở người nghe người đọc từ bài nói bài viết đó.

Tư tưởng nói và viết phải phù hợp đối tượng như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi bài nói bài viết của Hồ Chí Minh. Người luôn luôn khuyên "muốn cho người xem hiểu được nhớ được làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem". ở chỗ khác Người cũng nói: "Một tỉnh có đồng bào Thái đồng bào Mèo thì khi huấn luyện đối với đồng bào Thái và đồng bào Mèo phải khác phải có sự thay đổi cho thích hợp bởi vì đời sống và trình độ đồng bào Mèo và đồng bào Thái khác nhau". Người đã nhận xét rất thú vị về cách nói cách giảng bài của cán bộ trước quần chúng: "Nhiều đồng chí ta... đã đưa thặng dư giá trị nhồi sọ cho thanh niên và phụ nữ nông dân tân dân chủ nghĩa nhồi sọ cho các em nhi đồng biện chứng pháp nhồi sọ cho công nhân đang học chữ quốc ngữ". Và Người khẳng định "chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng". "Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân". Trong các bài nói bài viết của Người hàm lượng ca dao tục ngữ thành ngữ cũng như các cách nói so sánh ví von dí dỏm rất lớn. Trong sáu cuốn Hồ Chí Minh Toàn tập đã có 314 câu thành ngữ với 561 lần được sử dụng.

Đặc điểm nổi bật thứ hai trong văn phong của Hồ Chí Minh là tính xác đáng của nghĩa từ được sử dụng. Một từ Người đã dùng cho ý nào trong tình huống nào là từ đó có ấn tượng mạnh và rất khó thay thế bằng từ khác. Tính xác đáng ở đây bao gồm cả tính chính xác về ý nghĩa và tính thích hợp (hay trúng) với hoàn cảnh hay tình huống giao tiếp cụ thể. Chẳng hạn để nói thói tiêu pha phung phí tiền bạc của công tính nói nhiều làm ít của cán bộ Người viết: "Sinh hoạt xa hoa tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh" (Sửa đổi lối làm việc trang 36).

Hoặc nói về lối dùng người vô nguyên tắc Hồ Chủ tịch viết: kéo bè kéo cánh bà con bạn hữu không tài năng gì cũng chức này chức nọ? Người có tài có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài" (Tuyển tập Hồ Chí Minh tập 1 trang 371). Tính chính xác của ngôn ngữ cũng bao hàm cả tính tinh tế trong việc lựa chọn từ khi nói viết điển hình là câu: "Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ" (Hồ Chí Minh Toàn tập tập 4 trang 140). "Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ" (Hồ Chí Minh Toàn tập tập 4 trang 175). ở đây thái độ của người viết rất rõ ràng: một bên là đồng bào một bên là kẻ; một bên là lạc lối lầm đường một bên là lầm đường lạc lối (đối lập đường và lối); một bên là lấy tình thân ái mà cảm hóa một bên là lấy lời khôn lẽ phải mà bày.

Để nói về quan hệ ứng xử giữa lớp cán bộ lâu năm nhiều tuổi với cán bộ trẻ Chủ tịch Hồ Chí Minh có cách nói rất thấm thía nhờ sử dụng đúng chỗ đúng ý các quán ngữ thành ngữ: "Một số ít cán bộ già mắc bệnh công thần cho mình là người có công lao hay có thái độ cha chú" với cán bộ trẻ trẻ nói gì cũng gạt đi cho là "trứng khôn hơn vịt măng mọc quá tre".

Đặc điểm nổi bật thứ ba trong cách nói cách viết của Hồ Chí Minh là việc sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật ngôn từ cho một mục đích diễn đạt. Đặc điểm này rất ít thấy ở các tác giả khác. Những thủ pháp nghệ thuật ngôn từ tiêu biểu là: dùng câu hỏi để gây sự chú ý đặt người nghe vào cuộc thoại; lặp từ nhắc lại ý để nhấn mạnh gây ấn tượng; thay đổi hình thức từ cấu trúc từ theo lối chơi chữ để gây tính hài hước dí dỏm vui tươi xóa nhòa sự ngăn cách về địa vị xã hội gây sự thân mật giữa người nói và người nghe...

Trên đây là những nhận xét tìm tòi bước đầu về cách nói cách viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu nói một cách khái quát nhất thì đặc điểm nổi bật của cách nói cách viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tính thỏa đáng giao tiếp theo từng đối tượng và từng hoàn cảnh cụ thể; nhờ đó mà bài nói bài viết của Người luôn đạt được sự thấm thía có sức thuyết phục mạnh mẽ và có hiệu quả tác động lớn.

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Như Ý
(Báo Nhân dân)

More...

GIỮ GÌN TIẾNG VIỆT TRONG SÁNG THEO GƯƠNG CT HỒ CHÍ MINH

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái


Tiêu biểu cho ý thức trách nhiệm về sự chăm sóc môi trường giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt vẫn là Hồ Chí Minh trên cả hai tư cách: Nhà văn hóa và Chủ tịch nước.

Tiếp theo là các vị lãnh đạo Phạm Văn Đồng Trường-Chinh và nhiều nhà lãnh đạo cao cấp khác. Đáng tiếc là từ hơn mười năm nay nhiệm vụ bảo vệ tiếng Việt của những người cầm bút đã bị xem nhẹ dần dần đến tình trạng môi trường tiếng Việt đang bị "ô nhiễm" nghiêm trọng và toàn diện cả về dùng từ cấu trúc câu chính tả lạm dụng tiếng nước ngoài... (Riêng về chính tả thì nạn viết tắt đã đến mức "đáng sợ" với những câu cụm chữ tắt như đánh đố bạn đọc).

Một nhà văn lão thành nổi tiếng đã nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh có lần đã nói với tôi rằng: Nhà văn chúng ta cần có ngoại ngữ nhưng trước hết là hàng ngày phải chăm lo học tiếng Việt. Thì chính danh nhân văn hóa nhà văn đa ngữ Hồ Chí Minh cũng đã có lần tâm sự với giới báo chí văn nghệ là "Đến ngày Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại học viết tiếng ta"(*). Sự học viết ấy của Bác Hồ xuất phát từ một nhận thức khoa học đầy tâm huyết "Tiếng nói là một thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó quý trọng nó làm cho nó phát triển ngày càng rộng khắp". Sau này hơn một năm trước lúc "đi xa" Bác lại khẳng định tiếp "Tiếng Việt của ta rất phong phú ta phải làm giàu thêm cho tiếng của ta".

Bác đã nhiều lần thẳng thắn nêu lên những cái tật trong viết và nói làm cho nghèo đi làm vẩn đục cái kho tàng và môi trường tiếng Việt. Chẳng hạn cái tật "vay mượn lu bù" chữ Hán để "lòe thiên hạ" (cũng như hiện nay đang rộ lên các mốt khoe khoang tiếng Anh). Tuy nhiên tôi cũng không quên rằng đã từ lâu Bác Hồ vẫn nhấn mạnh "... Còn bây giờ khác sinh hoạt đã cao hơn người ta thấy hay thấy lạ thấy văn chương thì mới thích đọc". Có nghĩa là muốn sáng hồn văn thì phải luôn đề cao trách nhiệm tận tâm tận trí tận lực bảo vệ và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt. Văn phong Hồ Chí Minh cũng như văn phong của mỗi nhà văn hóa lớn ở nước ta cho tôi bài học về một bản lĩnh như vậy. Cái bản lĩnh phấn đấu và cống hiến vì sự nghiệp "Trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Tôi hiểu lời Hồ Chí Minh "Trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam" có nghĩa là xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc như tiêu đề Nghị quyết V của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII). Nhưng trau dồi bằng khả năng và sức mạnh nào? Về vấn đề này Bác Hồ đã đề xuất một cách giải quyết thấu đáo như sau:

"Bất đắc dĩ mới phải dùng chữ - Thí dụ: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là chữ Trung Quốc nhưng ta không có những chữ gì dịch thì cố nhiên ta phải dùng. Nếu quá tải không mượn không dùng hoặc là nói "Việt Nam đứng một" thì không ai hiểu được... đã mượn thì phải mượn cho đúng".

Bác đã nêu lên hai nguyên nhân dẫn đến sự vay mượn khi không không cần thiết hoặc vay mượn không đúng vì:

1. Không quý báu tiếng nói của dân tộc. Tự ti.

2. Học không đến nơi đến chốn.

Bác nhấn mạnh: "Vay mượn là cần nhưng phải chống lạm dụng chống lười biếng. Cần có cuộc vận động chống lạm dụng tiếng nước ngoài lạm dụng chữ Nho. Có vô số trường hợp có thể tìm tiếng ta mà không chịu khó tìm. Đây cũng phải theo nguyên tắc tự lực cánh sinh là chính phải quý báu tiếng mình dựa vào bản thân nó để phát triển nó là chính vay mượn là phụ".

Bác còn đề xuất: "Cần nghiên cứu cách đặt từ của mình nghiên cứu nghĩ thêm cách đặt từ mới của mình".

Lời Bác Hồ cách đây hàng chục năm vẫn còn giữ nguyên giá trị nóng hổi trong nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt hiện nay.

Cùng với công cuộc đổi mới tiếng Việt đang phát triển với quy mô rộng lớn. Tuy nhiên bên cạnh những từ chính xác thì cũng lẫn lộn vô số là hạt sạn. Mà buồn thay những hạt sạn như vậy ngày càng dễ gặp dễ thấy. Chẳng hạn trước đây người ta nói: cơ quan hữu trách cơ quan chủ quản cơ quan hữu quan cơ quan liên quan thì giờ đây chỉ còn gộp lại một cụm từ vô nghĩa cơ quan chức năng (rồi kéo theo một loạt cụm từ khác: các cơ quan chức năng ban ngành chức năng thậm chí có cả lực lượng chức năng nữa).

Vô nghĩa vì chức năng là nhiệm vụ của một tổ chức một tập thể một đoàn thể một ngành khoa học. Thí dụ: nhận thức khám phá sáng tạo là chức năng của văn nghệ. Vậy nói "cơ quan chức năng" là không nói gì cả vừa thừa lại vừa thiếu. Cũng gần như vô nghĩa khi người ta dùng cụm từ "giải pháp tình thế" thay cho "giải pháp đột xuất; giải pháp tạm thời" giải pháp nào thì chẳng phải xuất phát từ một tình thế cụ thể để tạo nên một tình thế thuận lợi hơn. Sự vay mượn không đúng hoặc không cần thiết mà trước đây danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh đã cảnh báo thì bây giờ đây đã trở nên nặng trĩu những va vấp lộn xộn và lủng củng. Tại sao người ta không chịu viết và nói giản dị là công ăn bắt... tên buôn lậu mà viết và nói công an bắt... đối tượng buôn lậu. Đối tượng ở đây là người xấu là kẻ phá hoại. Nhưng rồi đối tượng cũng là người tốt người có công với nước: "Ông Chủ tịch xã đi thăm... đối tượng gia đình chính sách trong khi vẫn có thể viết đơn giản là ông Chủ tịch xã đi thăm... gia đình thương binh liệt sĩ. ở đây sự vay mượn từ đối tượng quả là vô duyên.

Rồi nào là "thành tích còn khiêm tốn" "đầu tư khiêm tốn" thậm chí còn có cả "chiều cao khiêm tốn" thì không một ai hiểu nổi tác giả muốn nói gì. Từ "khiêm tốn" vốn nằm ở lĩnh vực đạo đức từ khi nào đã được chuyển sang lĩnh vực đánh giá mức độ hoặc trình độ đồng nghĩa với "ít ỏi" "thấp kém". Sự vay mượn phải nói là đáng nực cười.

Rồi xu hướng dùng từ "bà con" thay cho đồng bào cũng đã thành phổ biến. Mà cũng lạ! Cứ hễ nói đến "nông dân" là y như phải kèm tiếng "bà con" (rất thừa). Bà con nông dân; bà con dân tộc (vô nghĩa); lại có người còn "liều mạng" viết: "Bà con các bộ tộc nhân dân Lào".

Rồi lại còn những cụm từ chắp vá như "phối kết hợp" "kỹ chiến thuật" "khán thính giả"...

Còn với tiếng Anh tiếng Pháp thì sự vay mượn lại còn vô duyên hơn. Người ta thích dùng chữ Fair play tiếng Anh thay cho chơi đẹp vốn là một từ vô cùng chính xác vô vàn hay trong tiếng Việt. Trong một cuộc đấu bóng chuyền quốc gia mặc dầu đã có cái băng vải viết cụm từ Giải thưởng lớn ấy thế mà người tường thuật vẫn cứ cố gào to lên tiếng Pháp Gờ-răng-pơ-ri (grand prix).

Còn nhiều nhiều lắm những hạt sạn "cắn gãy răng" như thế mà người viết bài nhỏ này chỉ xin lấy ra vài thí dụ làm minh chứng cho nhận định rất chủ quan và bất cập của mình. Nói bất cập vì vấn đề thì lớn lắm mang tính chiến lược vậy thì sự hiểu biết cá nhân làm sao mà bao quát được làm sao mà tránh được sai sót.

Chỉ xin nêu mấy đề nghị sau đây:

- Đảng Quốc hội Nhà nước phải lãnh đạo quản lý có luật về môi trường tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

- Các cơ quan chủ quản và hữu quan như Ban Tư tưởng - Văn hóa Bộ Văn hóa - Thông tin Viện Ngôn ngữ học cùng các đoàn thể Hội Nhà báo Hội Nhà văn các báo các tạp chí cần có chương trình hành động cho sự ngăn chặn nạn ô nhiễm môi trường tiếng Việt và "làm giàu thêm cho tiếng của ta".

- Đề nghị mở cuộc vận động giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt như ý kiến Bác Hồ trước đây.

- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nên đưa nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt vào chương trình học tập ở các cấp học từ tiểu học đến đại học.

- Còn những người viết văn phải thực sự gương mẫu trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong việc viết lách hàng ngày.

Cuối cùng xin kể lại mẩu chuyện sau đây: Hôm ấy (1968) Hồ Chủ tịch chủ trì hội nghị bàn về việc ra loại sách Người tốt việc tốt. Khi kết thúc Bác Hồ nhắc các giám đốc xuất bản viết sao cho giản dị dễ hiểu đừng có lạm dụng chữ Nho. Rồi đột nhiên Bác nói đại ý: Có phải các chú thích nói "hỗ trợ" Bác thì quan trọng hơn là "giúp đỡ" Bác?. Đáng tiếc là hơn ba mươi năm sau tức là bây giờ đây người ta đua nhau nói chữ Nho "hỗ trợ" thay cho tiếng Việt "giúp đỡ" mặc dầu "hỗ trợ" thật ra là giúp đỡ lẫn nhau chứ không phải chỉ giúp một chiều.
Minh Huệ
(Báo Văn nghệ)

---------------------------------
(*) Từ đây lời của Hồ Chí Minh (trong ngoặc kép) đều trích từ cuốn sách Về công tác văn hóa văn nghệ - Nhà xuất bản Sự thật - 1971.

More...

CÓ NÊN PHÂN BIỆT VỚI TỪ HÁN VIỆT

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái

Cần coi là từ Việt


Trong sự giao lưu giữa các cộng đồng sử dụng ngôn ngữ khác nhau việc mượn từ ngữ của nhau là việc hết sức bình thường. Vấn đề là mượn như thế nào để có thể bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của mình. Trong tiếng Việt người ta đã chỉ ra khá nhiều từ mượn từ gốc Thái Khmer... mà ta vẫn coi là thuần Việt. Với người bình thường khó mà nhận ra gốc Pháp của các từ cốc tách xăm lốp... Vì vậy gọi từ Hán Việt để phân biệt từ thuần Việt cũng chỉ nên coi là một "thủ pháp" trong học tập nghiên cứu. Chẳng nên quá "phân biệt đối xử" khi coi từ Hán Việt như nguyên nhân làm tiếng Việt giảm đi sự thuần nhất và trong sáng của nó.

Ta đã có khá nhiều giải pháp hay khi mượn từ Hán Việt và khối từ này đã ngày càng Việt hóa cao. Cố nhiên ta phải phấn đấu cho tiếng Việt ngày càng phong phú hay và đẹp hơn. Muốn thế các nhà văn hóa những người sử dụng ngôn ngữ nhiều phẩi góp phần sàng lọc các yếu tố tiêu cực trong các lớp từ kể cả lớp từ mượn Hán Việt mượn "quốc tế" hiện nay lẫn lớp từ được coi là thuần Việt. Bởi vì lớp từ nào cũng có những yếu tố tiêu cực cần sàng lọc cả.

Những yếu tố Hán Việt "tiêu cực"

Do "quen thuộc" về mặt ngữ âm nên nhiều khi gặp từ lạ trong tiếng Hán các phiên dịch "ngại nghĩ" cứ phiên thẳng âm ra tiếng Việt mà không quan tâm ý nghĩa của nó trong tiếng Việt có phù hợp không. Vì vậy phân xưởng rèn từng có lúc được gọi là phân xưởng gia công áp lực. Ngành đường sắt sau năm 1954 có rất nhiều từ Hán Việt nặng nề; ngành giáo dục cũng dịch ra đủ các từ như giáo cụ trực quan sĩ số hiện hữu kiến tập thực tập... Và bây giờ trên báo thỉnh thoảng vẫn xuất hiện các từ nghiệp dĩ biên mậu... Đó là căn bệnh mượn ẩu mượn bừa nhập lậu trong việc mượn từ Hán Việt.

Chữa căn bệnh này cũng không khó. Trách nhiệm trước hết là ở các nhà phiên dịch tiếng Trung. Gặp các từ không quen thuộc các vị hãy đề cao tinh thần trách nhiệm với ngôn ngữ dân tộc vận dụng các cách mượn từ thông minh của dân tộc ta để xử lý. Hãy dịch ra các từ quen thuộc (thuần Việt hay từ tố Hán Việt quen thuộc) cho dễ hiểu. Kinh nghiệm tạo danh từ khoa học của các bậc đi trước như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và những người khác rất cần được học tập. Nếu cứ lười nhác thì các cụ đã dùng Précipiter hoặc trầm điện chứ chả cần tạo ra kết tủa và ta cũng chẳng có cái từ rất "hóm hỉnh" là tá tràng nghe như "Hán Việt xịn" mà thật ra là "Hán Việt dởm" gồm tá là 12 tràng là ruột để dịch chữ duodénum (tiếng Hán dùng từ khác). Cũng như vậy nếu chỉ dùng kiểu "phiên âm" thì làm gì ta có những tên gọi Việt Nam cho các cán bộ ngành y mà nếu viết ra chữ Hán thì người Trung Quốc cũng không hiểu được họ làm công việc gì: bác sĩ hộ lý...

Cố nhiên ngăn chặn các nguồn có khả năng "nhập lậu" là một mặt. Quan trọng nữa là "người tiêu dùng" cần có ý thức không làm sang bằng cách dùng các từ có vẻ "bác học".

Tuy nhiên đã thận trọng với từ Hán Việt mượn ẩu lại rất cần thận trọng khi muốn thay thế các từ Hán Việt đã quen thuộc. Các từ đã được cộng đồng chấp nhận dùng quen trong đời sống đều là các từ cần mượn. Những từ "thuần Việt" có thể thay thế nó thường không đáp ứng được yêu cầu hoặc là thiếu những nét nghĩa chuyên biệt hoặc là không có được sắc thái cần có. Hãy xem vài trường hợp quan sát không hoàn toàn đồng nghĩa với xem xét. Các từ thể thao như (chạy) việt dã hậu vệ sao có thể thay bằng (chạy) vượt ruộng giữ mặt sau; gia phong không thể thay bằng lệ nhà; phong trần không phải lúc nào cũng có thể thay bằng gió bụi!

Thái độ sáng suốt ở đây là mượn cái gì cần mượn Việt hóa tối đa khi có thể và không "dị ứng" với việc mượn từ. "Đóng cửa" là không nên và cũng không thể.

Tôn trọng cuộc sống riêng của từ ngữ

Từ ngữ có cuộc sống riêng của nó. Khi đã được cộng đồng sử dụng chấp nhận nó đi vào cuộc sống chung. Tùy theo khả năng hoạt động của nó nó sẽ kết hợp với các yếu tố khác từ ngữ khác để làm nảy sinh những nghĩa nhánh (phái sinh) và có thể tạo ra các sắc thái mới các từ cùng họ thuận hay ngược chiều. Từ quả là một thí dụ. Ngoài hai nghĩa "trái cây" và "kết quả" mượn ở gốc Hán nó đã có thêm các nghĩa nhánh chỉ có ở tiếng Việt: chỉ đơn vị các vật có hình giống trái cây (quả cân quả đấm) hay đồ đựng bằng gỗ hình hộp tròn có nhiều ngăn và có nắp (quả sơn)... và rồi nó có thêm những kết hợp mới: quả lừa trúng quả...

Cũng như vậy từ Hán Việt do đặc điểm ngoại lai của nó rất dễ bị biến dạng. Cần tôn trọng các hình thức biến dạng về ngữ âm ngữ nghĩa mà phần lớn giới bình dân đã dùng đó thường là sự phát triển đúng các quy luật ngôn ngữ chứ không phải chỉ là do thiếu hiểu biết mà ra cả đâu! Cứ khư khư theo từ nguyên mà dùng ủy mĩ (ủy mị) đồi tệ (tồi tệ) a du (a dua) quá kích (quá khích) xem có buồn cười không! Không thể cố chấp mà bảo tử tế (tốt bụng) là "xem xét tỷ mỉ" lỗi lạc (có tài khác đời) là "trong sạch thẳng thắn" vô tình (không cố ý) là "không có tình" v.v.

Từ những biến dạng xa dần nghĩa gốc rất nhiều từ Hán Việt đã có một bộ mặt hoàn toàn xa lạ. Tồn tại đã đi qua bước trung gian vấn đề tồn tại những cái tồn tại để đi tới một danh từ mới có nghĩa là "những khuyết điểm yếu kém chưa được khắc phục"; cập nhật từ cái nghĩa đen là "kịp từng ngày" đã đi tới cái nghĩa bóng "theo sát từng ngày những cái mới của thời đại". Do đó nói kiến thức cập nhật là sáng tạo từ mới theo hướng này.

Từ chuyện chuyển nghĩa cũng nên nói đến hiện tượng mất nghĩa của các từ tố. Trong các từ song tiết thuần Việt cũng đã có nhiều yếu tố bị mất nghĩa (mà phải nghiên cứu mãi mới truy ra): đường xá tre pheo gà qué chợ búa... Từ mượn Hán Việt càng có nhiều lý do để mất nghĩa các từ tố của nó. Do tính cách tên riêng mà những yếu tố sơn hà giang... đã không còn giữ nguyên nghĩa trong Thái Sơn Hoàng Hà Trường Giang. Vì vậy nói "đi lên núi Thái Sơn" "qua sông Trường Giang" đâu phải là thừa! Nói như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cái âm hưởng Việt nhiều khi cũng đòi hỏi tạo các từ gồm các yếu tố Hán Việt và thuần Việt đồng nghĩa như in ấn...
Lê Xuân Mậu
(Tạp chí Văn)

More...

LẠI NÓI VỀ VIỆC DÙNG TIẾNG NƯỚC NGOÀI

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái


Mặc dù đã có không ít tiếng nói nhắc nhở việc không nên dùng tiếng nước ngoài bừa bãi nhưng trong nhiều bài viết bài nói trên các phương tiện thông tin đại chúng một số người vẫn cứ "xài" tiếng nước ngoài một cách... "vô tư"! Có một nghịch lý là cái tệ hại ấy xuất hiện nhiều hơn cả trong lĩnh vực văn hóa! Sau đây xin đề cập một số trường hợp tương đối phổ biến:

- Trong lĩnh vực ca nhạc: Về tên gọi các nhạc cụ có nguồn gốc phương Tây có thể chấp nhận việc dùng các từ tiếng nước ngoài (trong nguyên dạng hay được phiên ra chữ quốc ngữ) dù từ đó đã từng được dịch nghĩa ra tiếng Việt vì chúng là những thuật ngữ ít nhiều mang tính quốc tế. Thí dụ như từ "vi-ô-lông" - đã được dịch là "vĩ cầm" - phiên ra từ tiếng Pháp: "violon" còn trong tiếng Anh là "violin" đều do từ nguyên "violone" trong tiếng Italy ra. Hay từ "ghi-ta" - đã được dịch là "lục huyền cầm" - là phiên từ tiếng Pháp "guitare" ra còn trong tiếng Anh là guitar (cũng đọc là ghi-ta) trong tiếng Italy là "gitarre" đều bắt nguồn từ từ "guitarra" trong tiếng Tây Ban Nha. Thế nhưng không thể dùng các từ "guitarist" "pianist" vì tiếng Việt vốn không có biến hình: người (hay nghệ sĩ) chơi đàn ghi-ta người (hay nghệ sĩ) chơi đàn pi-a-nô. Tương tự như vậy tiếng Việt đã có "người đơn ca" "người độc tấu" sao lại cứ phải viết theo tiếng Pháp: là "soliste" hay theo tiếng Anh là "soloist"?

Với các hoạt động nghệ thuật người ta không chịu nói một cách đơn giản "cuộc thi âm nhạc" mà phải nói "concours pi-a-nô" "concours vi-ô-lông"... cho có vẻ long trọng (!) (ấy là chưa kể nhiều khi người viết quên đi chữ "s" cuối chỉ còn "concour" trơ trụi). Còn "đại hội liên hoan" các ngành nghệ thuật thì gọi là "festival" "hội diễn ghi-ta" thì gọi là "guitar gala" "chuyến lưu diễn" thì gọi là "tour diễn". Phổ biến nhất hiện nay là từ "show" (có người viết là "sô") để chỉ việc trình diễn buổi (hay tiết) trình diễn nghệ thuật. Từ đó đẻ ra một lô từ phát sinh: chạy show (sô) đi show (sô) nghệ sĩ show (sô) bầu show (sô) và cả "sô Tây" nữa. Không bằng lòng với từ "ngôi sao" (sân khấu điện ảnh) người ta dùng từ "vơ-đét"; cho rằng nói "tiền thù lao cho nghệ sĩ" có vẻ không được lịch sự người ta phải dùng từ "cát-sê" (có khi còn viết là "cát-xê"). Không chỉ mượn các danh từ người ta còn "nhập khẩu" cả động từ vốn nhạy cảm về tính dân tộc của ngôn ngữ hơn: người ta lấy từ "lăng-xê" (lancer) trong tiếng Pháp để viết "lăng-xê" một tác phẩm một ban nhạc một giọng hát một tác giả. Tại sao không nói "tung ra" hay "quảng cáo cho" hay "tán dương"...?

- Trong lĩnh vực điện ảnh sao cứ phải gọi "máy quay phim" là camera và "người quay phim" là cameraman? Sao không nói "phần giới thiệu phim" mà phải nói "générique phim"! Thật chỉ khổ cho người không học tiếng Anh tiếng Pháp.

- Trong lĩnh vực thể thao cũng không hiếm kiểu dùng tiếng nước ngoài vô lối như vậy. Để nói đội bóng này "kỵ lối chơi" của đội bóng kia người ta hay nói "kỵ rơ" (phiên âm không chính xác từ "jeu" của tiếng Pháp); để nói lối chơi ép sân (hay siết chặt) người ta dùng "lối chơi pressing"; để chỉ "vận động viên xe đạp" (có cách nói hay: tay đua xe đạp) người ta thích gọi là cua-rơ xe đạp; để chỉ người "hâm mộ" "say mê" thể thao người ta gọi là "fan".

Ngoài ra còn một số từ khác liên quan đến hoạt động văn hóa mà gần đây báo chí thường dùng như từ "băng-rôn" (phiên âm từ "banderole" trong tiếng Pháp) thay cho từ "biểu ngữ" vốn đã thông dụng từ lâu...

Hẳn có người sẽ nói rằng những từ đó là thông dụng trong giới nghệ thuật thể thao thậm chí một số người ngoài cuộc cũng đã quen thuộc. Tuy nhiên ở đây lại trở lại những vấn đề rất cơ bản đối với người viết báo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra cách đây hàng bốn mươi năm: "Viết cho ai xem?" "Viết để làm gì"? (*)

Thiết nghĩ việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc phải bắt đầu từ những cái gì thông thường trong cuộc sống hằng ngày trước hết là tiếng mẹ đẻ.
Lê Hoài Nam

------------------------------

(*) Hồ Chí Minh: "Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ ba của Hội nhà báo Việt Nam" (8-9-1962)

More...

Tản mạn về từ mới

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái

 

Người lính đích thực nào cũng muốn luôn trau dồi thứ vũ khí mà mình sử dụng trong chiến đấu để không ngừng nâng cao tính năng tác dụng của nó. Vũ khí của nhà văn là ngôn từ và việc nhà văn nào cũng khát khao rèn rũa thứ vũ khí đó cho sắc bén trong đó có nhu cầu sáng tạo ra những từ ngữ mới là một nhu cầu chính đáng và bức thiết. Từ xưa đến nay đều như vậy.

Tuy nhiên sáng tạo được một từ mới thật sự có sức sống trong công chúng và thời gian để có thể bổ sung cho vốn từ vựng của dân tộc là một điều vô cùng khó khăn. Trong hai câu thơ nhằm cực tả cảnh tù túng quẩn quanh của Kiều ở lầu xanh khi mà trong lòng thì ngổn ngang trăm mối Nguyễn Du viết:

Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng

Vào thời ấy mà dám lật ngược từ "hoàng hôn" thành "hôn hoàng" thì quả là một sự táo bạo chỉ có ở một bản lĩnh lớn.

Nhưng táo bạo nhất thì phải kể đến người đàn bà nổi loạn có cái tên dịu dàng Hồ Xuân Hương:

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom

Giữa cái cảnh ao tù nước đọng ngày ấy một từ như từ "phòm" ném ra ở đây thì đúng là một quả bom - như cách nói bây giờ đó còn là một quả bom sex nữa kia. Đây là một từ thuần Việt trước Hồ Xuân Hương chưa ai dùng và sau bà cũng chẳng ai dám dùng. Vì nó độc quá tức là nó đúng quá nó theo nguyên tắc dùng cấu trúc phát âm để tượng hình nó được dùng tuyệt đối đúng chỗ và đúng thần nó là độc đắc không thể tùy tiện nhấc sang chỗ khác. Cái tài của người dùng chữ ở đây là đặt nó lên ngai rồi lại phải bày ra tả phù hữu bật để giữ cho cái ngai ấy vững như bàn thạch: tả phù hữu bật ở đây là từ "nứt" và đặc biệt là cụm từ "hỏm hòm hom" một nhóm từ cũng độc đáo và tài tình không kém như nét mực bổ sung tô đậm thêm cho lý do tồn tại của từ "phòm". Hãy thử hình dung nếu không có cụm từ bổ trợ ấy thì từ "phòm" sẽ chân không bén đất cật không bén giời lơ lửng thế chưa chừng đổ cũng nên! Có lẽ chính vì thế mà mặc dù xưa nay thiên hạ đều bái phục cái cách dùng từ tài tình hy hữu này nhưng từ sau lần ra mắt đó đến nay chưa một ai dám dùng lại nó vì nếu không thì phải dùng luôn cả cụm từ hỗ trợ sau đó mà như thế thì bất tiện quá thành ra "đạo văn" rồi còn gì. Cũng tài tình và độc đáo như thế là hai câu:

Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông
Nó bảo nhau rằng: ấy ái uông

Sự chính xác và giản dị đến mực hồn nhiên làm nên tính bất ngờ mà hợp lý không chê vào đâu được của cụm từ "ấy ái uông". Đấy là thứ của báu trời cho là mẫu mực cho cái mà ta vẫn gọi là "xuất khẩu thành thơ" mà chỉ những thiên tài của nghệ thuật ngôn từ như Bà Chúa thơ Nôm mới có được mà trong đời cũng chỉ có được đôi ba lần thôi. Gọi đây là "lăng xê" từ mới có thể chưa chính xác về khái niệm vì mấy tiếng "ấy ái uông" có thể chưa phải là từ mà chỉ là những âm thanh biến dạng của người ngọng nhưng ít ra thì đó cũng là một cách diễn đạt bằng âm thanh tài tình thuộc loại độc nhất vô nhị bởi nó vẫn hàm chứa ngữ nghĩa ở bên trong nên không có cách gì khác hơn là phải coi đó như một cụm từ mới sáng tạo của thi sĩ.

Trong văn chương hiện đại ta cũng thỉnh thoảng gặp những từ ngữ mới được sáng tạo khá tài tình. Những bậc thầy về chữ nghĩa như Nguyễn Tuân Nguyễn Công Hoan Thạch Lam Nam Cao... trong văn xuôi; Tú Xương Tản Đà Xuân Diệu Huy Cận Hàn Mặc Tử... trong thơ ít nhiều đã có những đóng góp trong lĩnh vực này nếu không phải là khai sinh ra những từ hoàn toàn mới thì chí ít cũng mở rộng đất đai sử dụng thổi thêm sinh khí cho một số từ ngữ và như thế cũng có thể gọi là sáng tạo ngôn từ.

Đặc biệt có vẻ như chính thế hệ nhà văn nhà thơ đương đại mới là những người say sưa làm công việc này nhất với một ít thành công và rất nhiều thất bại.

Trong truyện ngắn Con gái thủy thần của Nguyễn Huy Thiệp đoạn kết có một dòng nghe thật da diết: "Trước mặt tôi dòng sông đang thao thiết chảy". Có thể kiến văn của tôi còn hẹp nhưng trước Nguyễn Huy Thiệp tôi chưa từng biết đến hai tiếng thao thiết - một từ đặt vào văn cảnh này thật tuyệt vời. Hình như nó được biến báo từ "tha thiết" nhưng chỉ thay đi một chút thôi mà nội hàm bỗng bao trùm hơn rất nhiều sức biểu cảm cũng mạnh mạnh mẽ hơn hẳn nhờ vào sự mù mờ không rõ ràng như chính tâm trạng con người vào những giây phút ấy. Tôi nghĩ sức cuốn hút của những dòng sông trong văn Nguyễn Huy Thiệp ngoài sự lý thú của những câu chuyện nhất định có sự đóng góp của vẻ đẹp những câu văn với những từ ngữ đầy chất thơ và giàu sáng tạo như thế. Phải chăng sức huyễn hoặc ấy đã lôi cuốn được cả một nhạc sĩ như Phó Đức Phương để ông cho ra đời một ca khúc mang đúng tên một truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp - ca khúc "Chảy đi sông ơi" - một ca khúc cũng đầy cái chất "thao thiết" mà ta vừa nói tới.

Có một nguyên lý mà đến giờ này tôi vẫn tin là đúng: Hình thức mặc dù cũng có những giá trị tự thân nhưng về cơ bản vẫn là để chở nội dung; và do vậy cũng về cơ bản chỉ những sáng tạo hình thức bắt nguồn từ nhu cầu có thực của nội dung mới hy vọng có sức sống - đương nhiên là với những sáng tạo thành công. Chính vì vậy một cuộc sống tù đọng thì vốn từ ngữ cũng quẩn quanh. Ngược lại một cuộc sống sinh sôi năng động như thời hiện đại thì buộc phải có những ngôn từ mới để có thể chuyển tải những chất liệu sống ngày càng rộng hơn và sâu sắc tinh vi hơn.

Dạo ở Trường Sơn tôi thường nghe lính tráng ca cẩm tình trạng "bang bách" để chỉ công việc bộn bề ngổn ngang; lại có nhà văn hay nói từ "khảng tảng" mà thú thực tôi cũng không thật hiểu nghĩa là gì. Nhà thơ Trần Đăng Khoa thì nhắc lời Xuân Diệu chỉ sợ đến lúc mình như gái già không ai "ỏ ê" đến nữa. Anh Khoa cũng hay diễu mấy ông phê bình tầm chương trích cú cứ thích "vạch vòi" câu chữ hoặc một nhà văn khác thì bảo mấy vị ấy có ít thì cứ nói "vóng vót" lên thành nhiều đến mức thành ra "vóng véo"! Rõ ràng ở đây có những nhu cầu thực sự đang cựa quậy bên trong khiến cho người nói khổ sở như người đau đẻ phải cố mà rặn cho ra cái sinh linh đang đòi ra mà chưa biết hình hài sẽ như thế nào. Nhà thơ Hữu Thỉnh viết:

Chị không thể làm như con rắn que cời
Lột cái xác già nua dưới gốc cây cậm quẫy

Từ "cậm quẫy" có vẻ như là sáng tạo của nhà thơ này.

Nguyễn Du cũng thích nhào nặn từ ngữ trong bài Vợ ốm ông viết:

Thình lình em ngã bệnh ngang
Phang anh xất bất xang bang thế này

Tôi không tin trong từ điển có cụm từ "xấc bất xang bang" nhưng đặt vào đây thấy được không đến nỗi bật ra - nó có vẻ như là bà con xa với từ "bang bách" vừa nói ở trên:

Trong những thời khắc chuyển giao thiên niên kỷ riêng tôi đặc biệt hứng thú với việc rút gọn cụm từ này thành chỉ hai tiếng - "thiên kỷ" - bởi vì về nội hàm nó bảo đảm chở được một nội dung đầy đủ và duy nhất tức là nó toàn quyền tồn tại độc lập không cần đến từ "niên" ở giữa. Nói "thiên kỷ" thì cũng như nói "thập kỷ" tức chỉ khoảng thời gian mười năm hoặc "thế kỷ" tức khoảng tồn tại của một kiếp người một cõi thế vì xưa nay kiếp người vẫn được ước lệ là một trăm năm ("trăm năm nào có gì đâu...").

Nhưng nhào nặn khác với vặn vẹo. Tôi muốn nói là có những người do quá khát khao "lăng-xê" từ mới nên đôi lúc lạm phát lối cưỡng bức từ ngữ một cách tùy tiện thiếu nội lực để đẻ ra những từ ngữ thiếu tháng oặt ẹo nên tạm gọi là vặn vẹo. Tạm lấy thí dụ như đã nói trên kia: Từ nói "vóng" lên (gốc từ "vống") mà đẻ ra "vóng vót" (liên tưởng đến "chót vót") hoặc thậm chí "vóng véo" (liên tưởng đến "véo von") thì còn khả dĩ chấp nhận nhưng cứ đà ấy mà kéo thành "vóng vánh" "vóng vít" "vóng víu ... thì đích thị là vặn vẹo rồi. Còn nhớ khi đọc tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường tôi có bắt gặp một từ lạ - "hấp hoảng" liền hỏi anh Trường nghĩa là gì thì được trả lời: nghĩa của nó là chỉ trạng thái dưới "hốt hoảng" một chút! Tôi không rõ ở quê nhà văn có ai dùng từ này thật không nhưng tôi thì từ bé chưa nghe qua bao giờ. Hay là ông ấy đấu "hốt hoảng" và "hấp tấp" lại mà thành? Chịu. Có điều là đọc một cuốn sách mà học thêm được một từ lạ cũng thấy sướng.

Trở lại với nhận xét chính cuộc sống phát triển năng động đẻ ra từ ngữ mới xin lấy ngay thí dụ ở cái hoạt động vẫn khiến nhiều người ở xứ ta phát điên tức là bóng đá thì sẽ rõ. Tôi thực sự khâm phục cái cách mà những người yêu bóng đá ném ra hàng loạt những từ mới nhằm diễn đạt những gì diễn ra trên các chảo lửa từ cách gọi những vị trí thi đấu trên sân như "hậu vệ thòng hậu vệ dập hậu vệ quét" rồi "tiền vệ trụ tiền vệ lùi" cho đến "tiền đạo cắm"... đặc biệt là những từ mô tả các hành vi và động thái rất chính xác và đầy biểu cảm: dãn biên chồng cánh bắt người rướn nhịp vuốt lốp vẩy chọc khe xâu kim v.v... và v.v... Nhưng ấn tượng nhất là gần đây tôi đã nghe từ miệng một huấn luyện viên khen cầu thủ trụ cột của đội mình là: "Cậu ấy có khả năng "đọc" được trận đấu" Thật tuyệt vời - văn đấy chứ còn ở đâu nữa!

Anh Ngọc
(Báo Văn nghệ quân đội)

More...

Viết hoa - chuyện không đơn giản

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái

 

Một trong những mục tiêu mà công cuộc "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" hướng tới là chuẩn hóa và thống nhất về mặt chính tả trong đó có vấn đề viết hoa. Tưởng chừng đây là "chuyện dễ" song đi vào lý thuyết cũng như thực tiễn sử dụng thì mới thấy... rắc rối muôn vàn!

Xưa ông cha ta dùng chữ Hán chữ Nôm hoàn toàn chẳng cần viết hoa hay viết thường. Từ khi chữ quốc ngữ sử dụng các mẫu tự Latin được hình thành và phổ cập rộng rãi vấn đề viết hoa mới đặt ra.

Có lẽ nên ghi chú điều này: Hiện nay cũng tương tự chữ Hán trên thế giới còn một số hệ thống văn tự chẳng có lối viết hoa. Như chữ ả Rập chữ Thái chữ Lào chữ Khmer... Ngay cả những ngôn ngữ sử dụng mẫu tự Latin để ghi chép thì tùy từng dân tộc từng cộng đồng mà quy cách viết hoa cũng khác nhau. Văn tự Đức chỉ viết hoa chữ đầu câu và viết hoa mọi danh từ trong câu; không phân biệt danh từ chung với danh từ riêng mà chỉ phân biệt danh từ với tất cả các từ loại khác. Văn tự Pháp có cách viết hoa gần giống Việt Nam song cũng có những khác biệt nhất định.

Không kể lối viết hoa trang trí trong nghệ thuật đồ họa vì lý do thẩm mỹ chữ chẳng đáng viết hoa vẫn viết hoa và ngược lại (thường thấy trên bìa sách báo và các bao bì hàng hóa bích chương) thì viết hoa trong tiếng Việt hiện đại nhằm thể hiện bốn chức năng cơ bản: cú pháp; tu tù; đối lập danh từ riêng với danh từ chung; biệt hóa tên cơ quan đoàn thể tổ chức sản phẩm... Chúng ta thử xem xét lần lượt từng loại.

Viết hoa cú pháp

ấy là đánh mốc sự bắt đầu một câu. Cứ mở đầu một câu chữ đầu tiên phải viết hoa bất kỳ đó là chữ gì. Điều này tạo phân đoạn về phương diện cú pháp khiến ý tưởng trình bày được mạch lạc khúc chiết dễ tiếp thu. Đây là lối viết hoa bắt buộc của chuẩn chính tả Việt ngữ hiện đại nhìn chung được thực hiện thống nhất khắp toàn quốc từ bắc tới nam. Kể cả người nước ngoài và bà con Việt kiều dù ở phương trời nào khi soạn thảo văn bản tiếng Việt đều nghiêm túc tuân thủ quy định này.

Thực ra quy định này được xác lập cách đây chưa lâu lắm. Theo nhiều nhà nghiên cứu giai đoạn chữ quốc ngữ hình thành vào thế kỷ 17 thì lối viết hoa cú pháp chưa xuất hiện. Sách Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes in song ngữ Latin - Việt vào năm 1651 cũng như các thư từ viết bằng chữ quốc ngữ thời ấy còn lưu lại cho thấy: người ta chỉ viết hoa sau đoạn xuống hàng và chữ viết hoa được viết thụt đầu dòng; còn các câu trong đoạn văn thì viết thường chữ đầu cả. Phải đến tháng 4-1865 khi Gia Định báo - tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở nước ta - ra đời thì lối viết hoa cú pháp như hiện nay mới thực sự được khẳng định.

Căn cứ tín hiệu nào mà chúng ta viết hoa cú pháp? Dấu chấm (.). Cứ chấm hết câu thì viết hoa mở đầu câu kế tiếp. Đó còn là dấu chấm hỏi (?) và dấm cảm thán (!). Rắc rối là dấu chấm lửng... (...) vì nó có thể kết thúc một câu nhưng nó có thể nằm giữa câu trong trường hợp liệt kê hoặc do chủ ý người viết muốn gây bất ngờ hay diễn tả sự ngắt quãng sự kéo dài về âm thanh v.v. Hãy so sánh mấy thí dụ sau:

- Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương... (thơ Hàn Mạc Tử)

- Cờ bạc là bác thằng... ăn trộm.

- Bước chân ra đi nó khóc mãi... khóc mãi...

- Trang trại được trồng cam quýt xoài điều... thành từng luống ngay hàng thẳng lối.

Dấu chấm phẩy (;) cũng là tín hiệu tương tự dấu chấm lửng: sau dấu này có khi viết thường có khi viết hoa. Đọc nhiều tác phẩm ta thấy các phần tương đối độc lập trong câu được ngăn cách bằng dấu chấm phẩy chữ tiếp theo vẫn viết thường. Thế nhưng ở nhiều văn bản hành chính nhất là phần "căn cứ" "chiếu theo" "xét đề nghị"... nêu đầu tiên thì sau các dấu chấm phẩy lại là xuống dòng và viết hoa.

Sau dấu hai chấm (:) cũng thế. Có trường hợp viết hoa. Có trường hợp viết thường. Lắm khi rơi vào tình trạng "chín người... mười ý"!

Viết hoa tu từ

Danh từ chung theo nguyên tắc là không viết hoa nếu nó không nằm đầu câu. Thế nhưng trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định muốn nhấn mạnh một từ nào đấy làm cho từ ấy mang sắc thái biểu cảm thì người ta viết hoa. Thí dụ:

- Con Người hai tiếng vang lên đầy kiêu hãnh!

- ý niệm về Mẹ thường không thể tách rời ý niệm về Tình Thương...

Viết hoa qua những thí dụ vừa nêu thường biểu lộ sự tôn kính góp phần làm câu văn thêm độc đáo. Có thể gọi đây là lối viết hoa tu từ.

Viết hoa tu từ còn được áp dụng khi ghi tước vị cấp bậc chức vụ hoặc các yếu tố khác gắn với tên riêng đặc biệt là các bậc danh nhân. Điều này dẫn tới nhiều cách viết tạo ra sự không thống nhất.

Thử so sánh:

- Phù Đổng Thiên Vương
- Phù Đổng thiên Vương
- Phù Đổng Thiên vương
- Phù Đổng thiên vương

Người ta tỏ ra phân vân chẳng biết nên viết Chúa Trịnh Chúa Nguyễn hay viết chúa Trịnh chúa Nguyễn. Nếu viết hoa chữ "Chúa" thì phải viết Vua Lê Vua Nguyễn. Nếu viết thường chữ "chúa" chữ "vua" ắt phải viết trạng Quỳnh nghè Tân đồ Chiểu tú Xương... Vậy cũng đủ thấy rằng viết hoa hay viết thường chưa dễ đạt tới sự nhất trí trong một sớm một chiều!

So với lối viết hoa cú pháp thì lối viết hoa tu từ đã xuất hiện sớm hơn: ngay từ khi chữ quốc ngữ hình thành vào thế kỷ 17. Đến nay dù có đôi điểm chưa thống nhất như đã nêu song cả hai lối viết hoa trên đại thể đều đã đạt đến quy cách sử dụng tương đối ổn định trong cộng đồng người Việt.

Phức tạp rắc rối là chuyện viết hoa để đối lập danh từ riêng với danh từ chung và nhất là lối viết hoa nhằm biệt hóa tên gọi cơ quan đoàn thể tổ chức sản phẩm...

Viết hoa để đối lập danh từ riêng chung

Danh từ riêng là gì? Danh từ chung là gì? Chúng khác nhau chỗ nào? Theo công trình Hoạt động của từ tiếng Việt do Đái Xuân Ninh biên soạn (NXB Khoa học xã hội HN 1978) thì: "Danh từ riêng là tên gọi của một người một vật một tập thể riêng biệt. Danh từ riêng phân biệt rõ rệt với danh từ chung về mặt chức năng ngữ nghĩa. Danh từ chung là tên gọi của một loạt sự vật chứ không phải của từng sự vật riêng biệt. Chúng khác với danh từ riêng ở chỗ bao giờ chúng cũng chứa đựng một nội dung ý nghĩa nhất định kể cả những trường hợp mà chúng chỉ là tên gọi của một đối tượng duy nhất (mặt trời quả đất...)".

Thể hiện trên văn bản tiếng Việt danh từ riêng mang dấu hiệu hình thức đặc thù là viết hoa. Song như Nguyễn Văn Tu nhận xét trong chuyên luận Tiếng Việt trên đường phát triển (NXB Khoa học xã hội HN 1982) thì: "Viết hoa các danh từ riêng như thế nào là một vấn đề không ổn định và cho đến nay hầu như không có sự thống nhất".

Để tiện khảo sát ở đây chúng ta tập trung xem xét quy cách viết hoa nhân danh (họ tên người) và địa danh (tên đất). Chừng ấy cũng đủ thấy... phức tạp lắm rồi!

Về nhân danh từ trước đến nay tồn tại nhiều cách viết hoa khác nhau dù cùng một họ tên người. Ví dụ:

- Công Huyền Tôn Nữ Lưu Ly
- Công huyền Tôn nữ Lưu Ly
- Công huyền tôn nữ lưu Ly
- Công - huyền Tôn - nữ Lưu-Ly
- Công - Huyền - Tôn - Nữ - Lưu - Ly

Về địa danh cũng có nhiều cách viết. Thí dụ: Sài Gòn Sài gòn Sài-Gòn Sài-gòn Saigon...

Sau này theo Quyết định số 240/QĐ do Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thị Bình ký ngày 5-3-1984 thì chuẩn chính tả được thống nhất trên toàn quốc như sau:

Đối với tên người và tên nơi chốn viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết không dùng gạch nối.

Thí dụ: Trần Quốc Toản Quang Trung Hà Nội Bình Trị Thiên Vũng Tàu.

Điều ấy đã được áp dụng trong tất cả văn bản từ bấy tới nay. Thế nhưng không ít trường hợp vẫn còn khiến mọi người băn khoăn. Viết miền Nam hay Miền Nam viết Bắc bộ hay Bắc Bộ viết kiểu nào? Nếu thêm tọa độ phương hướng vào càng lúng túng: nên viết Miền Cực Nam Trung Bộ hay miền cực Nam Trung Bộ miền cực nam Trung Bộ miền cực nam Trung bộ đây? Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết thì viết sông Hồng hay Sông Hồng viết Hồng hà hay Hồng Hà viết đồng bằng sông Cửu Long hay Đồng Bằng Sông Cửu Long đây? Lại thấy có sách báo in Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Cửu Long kiểu nào đúng?

Có viết hoa tước vị cấp bậc chức vụ hoặc biệt hiệu không? Mặc dù điểm này từng đề cập ở phần viết hoa tu từ song giờ đây cũng nảy thêm thắc mắc. Viết Đại úy út Đen hay hay đại úy út Đen đại úy út Đen nhỉ? Viết Xuân tóc đỏ hay Xuân Tóc Đỏ nhỉ?

Nhân danh và địa danh tiếng Việt là thế còn không phải tiếng Việt thì sao? Bản "Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt" ban hành kèm theo Quyết định 240/QĐ nêu trên có chỉ cách viết tên riêng không phải tiếng Việt gồm tám trường hợp:

1. Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng chữ cái Latin thì giữ đúng nguyên hình kể cả các chữ cái f j w z; dấu phụ ở một số chữ cái trong nguyên ngữ có thể lược bớt. Thí dụ: Shakespeare Paris Petofi...

2. Nếu chữ viết của nguyên ngữ thuộc một hệ thống chữ cái khác thì dùng lối chuyển từ chính thức sang chữ cái Latin. Thí dụ: Lomonosov Moskva...

3. Nếu chữ viết của nguyên ngữ không phải là chữ viết ghi từng âm bằng chữ cái thì dùng lối phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin thường là cách phiên âm phổ biến trên thế giới. Thí dụ: Tokyo Kyoto...

4. Trường hợp những tên riêng mà trong thực tiễn sử dụng rộng rãi trên thế giới đã quen dùng một hình thức viết bằng chữ cái Latin khác với nguyên ngữ thì dùng tên riêng phổ biến đó. Thí dụ: Hungary (dù nguyên ngữ là Magyarorszag) Bangkok (dù nguyên ngữ là Krung Thep)...

5. Sông núi thuộc nhiều nước nên có những tên riêng khác nhau thì dùng hình thức tương đối phổ biến trên thế giới song vẫn có thể dùng theo ngôn ngữ địa phương trong những văn bản nhất định. Thí dụ: sông Danube / Donau / Duna / Dunares...

6. Những tên riêng hoặc bộ phận tên riêng mà có nghĩa thì dùng lối dịch nghĩa phù hợp. Thí dụ: Biển Đen Guinea xích đạo...

7. Những tên riêng đã có hình thức phiên âm quen thuộc trong tiếng Việt thì không cần thay đổi trừ khi có yêu cầu đặc biệt. Thí dụ: Pháp Hi Lạp Bắc Kinh Lỗ Tấn... nhưng thay ý bằng Italia thay úc bằng Australia... Tuy vậy cũng chấp nhận sự tồn tại khác nhau của một số tên riêng trong những phạm vi sử dụng khác nhau. Thí dụ: La Mã / Roma...

8. Tên riêng trong các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng thuộc trường hợp không phải tiếng Việt (Kinh).

Xét tám trường hợp đã được quy định chúng ta thấy ngay rằng có những trường hợp vẫn khó thống nhất (trường hợp 5 hoặc 7). Không hiếm trường hợp tồn tại nhiều kiểu viết khác nhau trong thực tiễn áp dụng cho đến nay đối với cùng một tên riêng: Shakespeare / Xêchxpia / Sếch-xpia; Moskva / Moscow / Moscou / Matxcơva / Mát-xcơ-va / Mạc Tư Khoa...

Như vậy rõ ràng hiện trạng viết hoa vẫn còn lúng túng và lung tung lắm lắm.

Ngay các từ mặt trời hoặc quả đất dù đã được xác định là danh từ chung song sách báo vẫn in Mặt trời / Mặt Trời hoặc Quả đất / Quả Đất. Nếu căn cứ vào tiêu chí viết hoa để đối lập danh từ riêng với danh từ chung thì trong trường hợp này các em học sinh bị nhầm lẫn là điều rất dễ xảy ra.

Viết hoa để biệt hóa tên cơ quan đoàn thể tổ chức sản phẩm...

Tên cơ quan đoàn thể tổ chức xí nghiệp công ty sở phòng ban trường học sản phẩm... được dùng như những tên riêng - dù chúng không phải là danh từ riêng hoặc chỉ chứa một vài danh từ riêng. Toàn bộ tên gọi này được viết hoa ra sao?

Bản "Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt" ban hành kèm Quyết định 240/QĐ nêu trên cũng chỉ rõ:

Đối với tên tổ chức cơ quan chỉ viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên.

Thí dụ: Đảng cộng sản Việt Nam Trường đại học bách khoa Hà Nội...

Trong giáo trình Tiếng Việt thực hành do Bùi Minh Toán chủ biên (NXB Giáo dục 2000) phần phụ lục đã đăng toàn văn quyết định cùng quy định ấy. Thế nhưng trong cả hai văn bản đều in rõ: Bộ Giáo dục. Vậy là ngược với quy định! Bởi theo quy định được nêu kèm ví dụ như vừa dẫn lẽ ra phải viết Bộ giáo dục thì mới phù hợp chứ. Qua thực tế quy định này vẫn không được áp dụng nghiêm túc vì rất nhiều lẽ.

Một tên gọi cơ quan đoàn thể công ty xí nghiệp... lắm khi rất dài mang đầy đủ ý nghĩa về cấp độ trong một hệ thống tổ chức nào đấy về chức năng và nhiệm vụ lại kèm theo danh hiệu cùng địa điểm. Thí dụ: Trường đại học nông nghiệp Hôxê Máctin Hà Nội; Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại dịch vụ và xuất nhập khẩu lương thực thực phẩm và nông ngư cơ huyện Châu Thành...

Lắm khi danh từ chung được dùng làm danh từ riêng trong tên gọi cơ quan hoặc sản phẩm tuy nhiên cách viết tồn tại rất nhiều kiểu. Thí dụ: Nhà xuất bản Giáo Dục / Giáo dục; Báo Giáo dục và Thời đại / Giáo Dục và Thời Đại/Giáo dục và Thời đại; Tạp chí Tài Hoa Trẻ / Tài hoa trẻ; Tủ sách Hai Tốt / Hai tốt... Thông thường người ta viết hoa cả cụm từ; Nhân Dân Tài Hoa Trẻ Thế Giới Mới Kiến Thức Ngày nay Khoa Học Phổ Thông... Nhưng có người lập luận: Nếu thế thì tên các tác phẩm cũng phải viết hoa cả cụm từ. Chẳng hạn phóng sự Tôi Kéo Xe tiểu thuyết Gánh Hàng Hoa tập truyện Anh Phải Sống bài thơ Màu Tím Hoa Sim ca khúc Nhìn những Mùa Thu Đi bức tranh Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ...

Thậm chí có người đề nghị viết hoa tất cả: Nhà Máy Vòng Bi - Xích-Líp Đông Anh; Xí Nghiệp Bóng Đèn-Phích Nước Rạng Đông Hà Nội; Công ty Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế... Viết kiểu này cộng thêm các lối viết hoa khác (viết hoa cú pháp viết hoa tu từ viết hoa danh từ riêng) nếu không khéo sẽ xuất hiện những văn bản toàn viết hoa và viết hoa!

Xu hướng hiện nay là viết hoa không theo âm tiết mà theo từ trong các tên gọi cơ quan tổ chức. Thí dụ: Bộ Thông tin Tuyên truyền Văn hóa và Du Lịch Lào; Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang... Cũng chưa ổn! Vì theo cách này viết Nhà hát Tuồng Đào Tấn e dễ gây ngộ nhận mà phải viết Nhà hát tuồng Đào Tấn. Vậy phải xây dựng mô thức thế nào để khỏi "lúc viết kiểu kia lúc ghi kiểu nọ" rất ... phi hệ thống?

Hội nghị khoa học "Chuẩn mực hóa chính tả và thuật ngữ khoa học" do Viện Ngôn ngữ học kết hợp tổ chức với Trung tâm biên soạn sách cải cách giáo dục (Bộ Giáo dục) đã diễn ra rất quy mô liên tục từ Hà Nội (7-1978) - vào Huế (8-1978) TP Hồ Chí Minh (10-1978) rồi Hà Nội (6-1979) vậy mà vẫn không đạt đến sự nhất trí về quy tắc chuẩn chính tả chung. Nhiều hội nghị hội thảo mang chủ đề tương tự lại tiếp tục được tổ chức bấy nay với kết quả chẳng có gì khả quan hơn. Một vị giáo sư ngôn ngữ học lão thành phát biểu:

- Dù muốn dù không việc chuẩn hóa chính tả tiếng Việt cũng phải được xúc tiến để đạt đến sự nhất trí cao dựa trên cơ sở khoa học. Việc này sẽ thuận lợi nếu các chuẩn mực ngôn ngữ khác của tiếng Việt được xác định một cách vững chắc. Riêng quy cách viết hoa muốn khắc phục tình trạng rối rắm như hiện nay cũng cần phải dựa trên nhiều thành quả khảo sát và nghiên cứu thật triệt để.

Phúc Đường
(Tạp chí Tài hoa trẻ)

More...

Hội nghị UBTQLH các Hội Văn học nghệ thuật VN lần thứ III (khoá VII): Sẽ có nghị quyết riêng về văn học nghệ thuật

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái

Hội nghị UBTQLH các Hội Văn học nghệ thuật VN lần thứ III (khoá VII):
Sẽ có nghị quyết riêng về văn học nghệ thuật




(LĐ) - Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT VN (viết tắt là UB) cho thấy bên cạnh một số thành tích đã đạt được những vấn đề tồn tại của nhiều năm qua vẫn chưa được giải quyết một cách tích cực: Thiếu tác phẩm đỉnh cao; thiếu đội ngũ kế cận trẻ tài năng; công tác phê bình chuyên nghiệp ngày càng yếu; cơ chế hành chính và bộ máy hoạt động vẫn còn nhiều vướng mắc còn mang dấu ấn của cơ chế xin - cho...



More...

Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Yên Bái: Nhiều hoạt động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

By Hội văn học nghệ thuật Yên Bái

 















Đồng chí Hoàng Thị Hạnh - Phó chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Hội VHNT tỉnh Yên Bái.

 

Năm 2007 Hội Văn học - Nghệt thuật đã kết nạp mới 13 hội viên nâng tổng số hội viên toàn tỉnh lên 113 người. Trong năm tổ chức được 2 trại sáng tác trong và ngoài tỉnh cho 56 lượt hội viên và cộng tác viên; mở trại sáng tác ảnh cho 56 tay máy.

Hưởng ứng cuộc thi "Tự hào truyền thống quê hương Yên Bái" Hội đã vận động hội viên tham gia và tham mưu cho tỉnh phát động cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về chủ đề này đến năm 2010; phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội mở cuộc thi ký nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ cùng với tham gia Triển lãm mỹ thuật khu vực lần thứ 8 tại tỉnh Lào Cai. Hội còn đăng cai tổ chức Liên hoan ảnh khu vực và đã giành được 1 Huy chương vàng 3 Huy chương đồng và giải đồng đội. 

Bằng sự cố gắng trong sáng tạo nghệ thuật 65 tác giả hội viên công bố được 22 đầu sách 27 bản nhạc 23 tranh tượng 175 ảnh nghệ thuật. Hội biên tập xuất bản 1 tuyển tập nhiếp ảnh và 1 tập thơ tuyển chọn cho hội viên cao tuổi.  Tạp chí Văn nghệ xuất bản 12 số ngày càng nâng cao chất lượng nội dung nghệ thuật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

Với thành tích trên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen và Ủy ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen cho 15 hội viên có nhiều đóng góp xuất sắc.

Theo YB

More...